TÓM TẮT
Đánh giá giai đoạn – Việc đánh giá giai đoạn cho bệnh nhân melanoma da có sự khác biệt tùy theo cơ sở y tế (Xem phần ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Đối với những bệnh nhân đã có chẩn đoán giải phẫu bệnh xác định là melanoma nguyên phát (bảng 1A-B), hướng tiếp cận của chúng tôi như sau (xem phần ‘Đánh giá giai đoạn’ ở dưới):
Hạch bạch huyết không ghi nhận bất thường trên lâm sàng khi thăm khám
- Melanoma tại chỗ và giai đoạn lâm sàng/giải phẫu bệnh IA: Đối với bệnh nhân không có triệu chứng, không có chỉ định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng hoặc chẩn đoán hình ảnh thường quy (Xem phần ‘Melanoma tại chỗ và giai đoạn lâm sàng hoặc giải phẫu bệnh IA’ ở dưới).
- Giai đoạn lâm sàng IIC (pT4 cN0): Chụp CT ngực, bụng và chậu (CAP) cùng với vùng cổ (đối với các khối u nguyên phát hoặc hạch vùng thuộc vùng đầu và cổ) trước khi thực hiện phẫu thuật cắt rộng và sinh thiết hạch gác (SLNB), nếu có thể (Xem phần ‘Giai đoạn lâm sàng IIC (pT4b cN0)’ ở dưới).
- Bệnh lý hạch biểu hiện rõ trên lâm sàng hoặc có di căn vệ tinh/di căn trong đường bạch huyết (in-transit): Đối với bệnh nhân có khối u nguyên phát ở chi, ưu tiên chụp PET-CT toàn thân và MRI não trước khi đánh giá thêm hạch vùng, nếu có thể. Chụp CT vùng cổ, ngực, bụng và chậu là một lựa chọn cho những bệnh nhân có khối u nguyên phát ở vùng đầu, cổ và thân mình (Xem phần ‘Hạch biểu hiện rõ trên lâm sàng hoặc di căn vệ tinh/di căn trong đường bạch huyết’ ở dưới).
Sau đánh giá giải phẫu bệnh hạch bạch huyết
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IB và IIA: Đối với bệnh nhân không có triệu chứng, hầu hết các chuyên gia không chỉ định chẩn đoán hình ảnh thường quy (Xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IB và IIA’ ở dưới).
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IIB và IIIA; IIC và IIIB: Chụp CT vùng CAP (và vùng cổ nếu có chỉ định). Đối với giai đoạn IIC và IIIB, PET-CT toàn thân là một lựa chọn để chẩn đoán hình ảnh cơ sở (Xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IIB và IIIA’ và ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IIC và IIIB’ ở dưới).
Chúng tôi thường không chỉ định chẩn đoán hình ảnh hệ thần kinh trung ương (CNS) trừ khi bệnh nhân có triệu chứng thần kinh, có tổn thương di căn ngoài sọ hoặc đang tham gia thử nghiệm lâm sàng. - Giai đoạn giải phẫu bệnh IIIC và IIID: Các lựa chọn bao gồm CT vùng CAP (và vùng cổ nếu có chỉ định) hoặc PET-CT toàn thân, tùy theo ưu tiên của bác sĩ lâm sàng và lựa chọn liệu pháp hỗ trợ. Chúng tôi chỉ định chụp MRI não cho tất cả bệnh nhân (Xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IIIC và IIID’ ở dưới).
- Bệnh có triệu chứng hoặc nghi ngờ di căn: Bệnh nhân nên được đánh giá trước khi thực hiện khảo sát hạch vùng (nếu có thể) bằng cách chụp CT vùng CAP (và vùng cổ nếu có chỉ định) hoặc PET-CT toàn thân, xét nghiệm lactate dehydrogenase (LDH) huyết thanh và chụp MRI não (Xem phần ‘Bệnh có triệu chứng hoặc nghi ngờ di căn’ ở dưới).
Theo dõi – Việc theo dõi bệnh nhân sau điều trị (hoặc đang điều trị hệ thống) cũng có sự khác biệt, hướng tiếp cận của chúng tôi như sau (xem phần ‘Theo dõi’ ở dưới):
- Khám da toàn thân cho tất cả bệnh nhân: Đối với mọi bệnh nhân, khám thực thể bao gồm kiểm tra da toàn thân và đánh giá lâm sàng các hạch bạch huyết vùng (Xem phần “Sàng lọc melanoma ở người trưởng thành và thanh thiếu niên”, mục ‘Thực hiện khám da’).
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IA: Đối với hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng, khám thực thể mỗi 6 tháng trong 2 năm đầu, sau đó khám hàng năm. Không có chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng hoặc chẩn đoán hình ảnh thường quy (Xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IA’ ở dưới).
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IB và IIA: Đối với bệnh nhân không có triệu chứng, khám thực thể mỗi 4 đến 6 tháng trong 2 năm đầu, sau đó khám hàng năm. Có nhiều quan điểm khác nhau về việc sử dụng các xét nghiệm cận lâm sàng hoặc chẩn đoán hình ảnh thường quy (Xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IB và IIA’ ở dưới).
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IIB và IIIA: Đối với những bệnh nhân dùng liệu pháp hỗ trợ, việc theo dõi nên được bắt đầu ngay khi khởi trị. Trong các trường hợp khác, chúng tôi áp dụng chiến lược tương tự cho cả nhóm dùng liệu pháp hỗ trợ và nhóm chỉ theo dõi đơn thuần (xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IIB và IIIA’ ở dưới):
- Khám thực thể mỗi 3 đến 4 tháng trong 2 đến 3 năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng cho đến năm thứ 5, và sau đó khám hàng năm.
- Chụp CT vùng CAP (và vùng cổ nếu có chỉ định) mỗi 6 tháng cho đến 3 năm đầu, sau đó hàng năm cho đến năm thứ 5. Sau 5 năm, bệnh nhân không có triệu chứng có thể được cân nhắc ngừng theo dõi hình ảnh sau khi thảo luận về lợi ích và rủi ro.
- Siêu âm (US) hạch vùng khi có chỉ định (Xem phần ‘Chỉ định siêu âm hạch trong theo dõi’ ở dưới).
- Chúng tôi không chỉ định chẩn đoán hình ảnh CNS trừ khi có triệu chứng thần kinh hoặc xuất hiện tổn thương di căn ngoài sọ.
- Giai đoạn giải phẫu bệnh IIC, IIIB, IIIC, IIID: Đối với những bệnh nhân dùng liệu pháp hỗ trợ, việc theo dõi nên bắt đầu từ khi khởi trị, bao gồm (xem phần ‘Giai đoạn giải phẫu bệnh IIC, IIIB, IIIC, IIID’ ở dưới):
- Khám thực thể và chụp CT vùng CAP có tiêm thuốc cản quang (và vùng cổ nếu có chỉ định) mỗi 3 tháng trong 3 năm đầu, sau đó mỗi 6 tháng cho đến năm thứ 5. Sau 5 năm, tiếp tục khám thực thể hàng năm và bệnh nhân không có triệu chứng có thể được cân nhắc ngừng theo dõi hình ảnh sau khi thảo luận về lợi ích và rủi ro.
- Đối với bệnh nhân có di căn vệ tinh/di căn trong đường bạch huyết, có thể chỉ định PET-CT 2 lần một năm thay cho chụp CT theo dõi định kỳ tại thời điểm đó (Xem phần ‘Bệnh nhân có di căn vệ tinh/di căn trong đường bạch huyết’ ở dưới).
- Chẩn đoán hình ảnh CNS thường không được chỉ định trừ khi có triệu chứng thần kinh hoặc tái phát bệnh hệ thống ngoài sọ.
- Siêu âm hạch vùng khi có chỉ định (Xem phần ‘Chỉ định siêu âm hạch trong theo dõi’ ở dưới).
- Bệnh di căn xa: Việc theo dõi được cá thể hóa dựa trên mức độ đáp ứng với điều trị (Xem phần ‘Bệnh di căn xa’ ở dưới).