Truyền khối hồng cầu ở những cá thể có phức hợp huyết thanh học khó

TÓM TẮT

Nguyên nhân gây phức tạp về huyết thanh học – Quy trình xét nghiệm tiền truyền máu tiêu chuẩn bao gồm định nhóm máu ABO, RhD và sàng lọc kháng thể. Phản ứng chéo được thực hiện với một đơn vị hồng cầu (RBC) cụ thể nếu có chỉ định truyền máu. Định kiểu gen hồng cầu cũng được triển khai trong một số điều kiện hạn chế. (Xem thêm ‘Xét nghiệm định nhóm/sàng lọc/phản ứng chéo tiêu chuẩn’ ở dưới và “Xét nghiệm tiền truyền máu cho truyền hồng cầu”.)

Các nguyên nhân dẫn đến sự phức tạp về huyết thanh học bao gồm sự hiện diện của các kháng thể đồng loài kháng các kháng nguyên hồng cầu tần suất cao (rất phổ biến), đa kháng thể đồng loài và các kháng thể tự miễn. Các nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm việc sử dụng các kháng thể đơn dòng điều trị có khả năng gắn kết với hồng cầu, sự thay đổi nhóm máu sau ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài (HSCT), các phân nhóm A hoặc kiểu hình B mắc phải. (Xem thêm ‘Nguyên nhân gây sàng lọc kháng thể dương tính hoặc phản ứng chéo bất tương thích’ ở dưới.)

Truyền máu khẩn cấp (Emergency release blood) – Đối với những bệnh nhân thiếu máu hoặc xuất huyết đe dọa tính mạng mà không có sẵn máu tương thích, chúng tôi khuyến cáo sử dụng máu truyền khẩn cấp thay vì trì hoãn việc truyền máu (Khuyến cáo 1B). Tuyệt đối không bao giờ từ chối truyền máu cứu sống bệnh nhân chỉ vì khó khăn trong việc tìm máu tương thích. (Xem thêm ‘Truyền máu khẩn cấp cho thiếu máu hoặc xuất huyết đe dọa tính mạng’ ở dưới.)

Nguyên nhân gây sàng lọc kháng thể dương tính

  • Kháng thể đồng loài – Các kháng nguyên phổ biến gây ra kháng thể đồng loài và đặc điểm của đa kháng thể đồng loài đã được thảo luận ở trên. (Xem thêm ‘Kháng thể đồng loài’ ở dưới.)
  • Kháng thể tự miễn – Không phải tất cả các kháng thể tự miễn đều là dấu hiệu của thiếu máu tán huyết tự miễn (AIHA), nhưng chúng có thể gây nhiễu kết quả sàng lọc kháng thể và che lấp các kháng thể đồng loài có ý nghĩa lâm sàng. Các loại kháng thể tự miễn và các thể AIHA (AIHA thể nóng, bệnh ngưng kết lạnh và AIHA do thuốc) đã được thảo luận ở trên. (Xem thêm ‘Kháng thể tự miễn’ ở dưới.)

Đánh giá tình trạng ngưng kết toàn bộ (Panagglutination) – Sự phối hợp giữa các nhóm chuyên môn là hết sức cần thiết, và tiền sử bệnh nhân đóng vai trò then chốt trong việc xác định khả năng hiện diện của các kháng thể đồng loài. Nếu người nhận truyền máu chưa từng mang thai hoặc chưa từng truyền máu, khả năng có kháng thể đồng loài là thấp; trong trường hợp cần truyền máu khẩn cấp, có thể sử dụng máu tương thích nhóm ABO.

Xét nghiệm huyết thanh với một bảng hồng cầu thuốc mở rộng có thể xác định xem có tình trạng ngưng kết toàn bộ hay không và đặc điểm của nó; bảng dưới đây liệt kê các nguyên nhân gây ngưng kết toàn bộ (bảng 1). Các phương pháp có thể dùng để xác định nguyên nhân gây ngưng kết toàn bộ và tìm kiếm các kháng thể đồng loài tiềm ẩn bao gồm xét nghiệm kháng globulin trực tiếp (DAT, test Coombs trực tiếp), giải hấp thu kháng thể (antibody elution) và định kiểu gen. Nếu nghi ngờ có kháng thể đồng loài và kiểu hình hồng cầu mở rộng của bệnh nhân chưa được xác định, có thể cung cấp hồng cầu tương thích với kiểu hình của bệnh nhân (ví dụ: hệ Rh và Kell).

Các lưu ý khác – Cần có những cân nhắc đặc biệt đối với các cá nhân điều trị bằng một số kháng thể đơn dòng (mAbs), những người đã ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài (HSCT), những người có nguyên nhân gây bất đồng nhóm ABO, hoặc những người đã nhận immunoglobulin truyền tĩnh mạch (IVIG) hoặc immunoglobulin kháng D.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here