TÓM TẮT
Dịch tễ học – Việc ước tính gánh nặng bệnh lao trẻ em trên toàn cầu gặp nhiều khó khăn do thiếu định nghĩa ca bệnh chuẩn, khó khăn trong việc thiết lập chẩn đoán xác định, tỷ lệ cao các thể lao ngoài phổi ở trẻ nhỏ và mức độ ưu tiên trong y tế công cộng đối với lao trẻ em thường thấp hơn so với người lớn. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của bệnh lao thay đổi tùy theo nhóm tuổi. Trẻ nhũ nhi (từ 1 đến <12 tháng tuổi) có nguy cơ tiến triển từ nhiễm lao sang bệnh lao cao hơn trẻ lớn. Nhóm tuổi này cũng dễ xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng tổn thương phổi như ho, sốt, sụt cân hoặc chậm lớn. Ngoài ra, trẻ nhũ nhi có nguy cơ cao mắc lao màng não và lao lan tỏa. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán (Xem ‘Nghi ngờ lâm sàng và thiết lập chẩn đoán’ ở dưới.)
Khi nào nghi ngờ lao – Cần nghi ngờ bệnh lao ở trẻ có các biểu hiện lâm sàng phù hợp (như ho kéo dài trên 2 đến 3 tuần, sốt, sụt cân, chậm lớn) và các yếu tố dịch tễ liên quan (tiếp xúc gần với nguồn lây truyền nhiễm, và/hoặc từng sống hoặc di chuyển ≥1 tháng đến vùng dịch tễ lao). Tuy nhiên, nhiều trẻ mắc lao không có triệu chứng.
Chẩn đoán xác định – Chẩn đoán xác định bệnh lao được thiết lập khi phân lập được M. tuberculosis qua nuôi cấy từ dịch tiết, dịch cơ thể hoặc mô. Kết quả xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAA) từ bệnh phẩm hô hấp dương tính (có hoặc không kèm theo soi AFB dương tính) ở người có nguy cơ mắc lao (và chưa từng điều trị lao phổi trước đó) là đủ để xác nhận chẩn đoán.
Chẩn đoán xác định bệnh lao ở trẻ em có thể đạt tới 75% ở trẻ nhũ nhi, nhưng tỷ lệ này là dưới 50% ở trẻ mắc lao phổi được chẩn đoán theo tiêu chuẩn lâm sàng.
Chẩn đoán lâm sàng – Do những khó khăn trong chẩn đoán xác định, bệnh lao ở trẻ em thường được chẩn đoán dựa trên lâm sàng. Chẩn đoán nghi ngờ lao có thể được đặt ra trong các trường hợp sau:
- Tiếp xúc gần với nguồn lây truyền nhiễm trong thời gian gần đây
- Hình ảnh X-quang ngực gợi ý
- Xét nghiệm giải phóng interferon-gamma (IGRA) hoặc thử phản ứng tuberculin (TST) dương tính
Tiếp cận đánh giá chẩn đoán – Bệnh nhân nghi ngờ lao phổi cần được đánh giá chẩn đoán theo quy trình sau (xem ‘Tiếp cận đánh giá chẩn đoán’ ở dưới):
- Khai thác bệnh sử kỹ lưỡng (bao gồm tiền sử tiếp xúc với nguồn lao và các triệu chứng phù hợp với bệnh lao)
- Khám lâm sàng (bao gồm đánh giá sự tăng trưởng)
- Lấy bệnh phẩm hô hấp để soi AFB và nuôi cấy vi khuẩn lao (ít nhất ba mẫu đờm hoặc dịch hút dạ dày), và xét nghiệm NAA (ít nhất một mẫu)
- Chụp X-quang ngực
- Xét nghiệm IGRA và/hoặc TST
- Đối với trẻ <12 tháng tuổi: chọc dò thắt lưng (bất kể có triệu chứng thần kinh hay không)
- Đối với trẻ sơ sinh nghi ngờ lao bẩm sinh: soi AFB, nuôi cấy vi khuẩn lao và xét nghiệm mô bệnh học từ nhau thai
Đối với bệnh nhân nghi ngờ lao ngoài phổi, cần thu thập bệnh phẩm từ (các) vị trí nghi ngờ để soi AFB và nuôi cấy (cũng như xét nghiệm NAA nếu khả thi).
Thu thập bệnh phẩm hô hấp – Hút dịch dạ dày là phương pháp chính để lấy bệnh phẩm chẩn đoán (bao gồm soi AFB, xét nghiệm nhanh và nuôi cấy) ở trẻ nhỏ, vì những trẻ này không đủ lực ho để khạc đờm. Các phương pháp thay thế bao gồm gây khạc đờm, hút dịch tỵ hầu hoặc khạc đờm (đối với trẻ lớn). (Xem ‘Thu thập bệnh phẩm xét nghiệm’ ở dưới.)
Hình ảnh học X-quang – Hình ảnh X-quang của lao phổi nguyên phát bao gồm hạch lympho vùng trung thất, rốn phổi, dưới carina và/hoặc cạnh khí quản; có thể có hoặc không kèm theo viêm nhu mô dạng hạt. Khi tình trạng hạch tiến triển, sự chèn ép đường thở lân cận có thể gây đông đặc hoặc tổn thương phân thùy, dẫn đến xẹp phân thùy hoặc thùy phổi trong bệnh cảnh thâm nhiễm và xẹp phổi. (Xem ‘Hình ảnh học X-quang’ ở dưới.)