TÓM TẮT
Thiếu máu chi cấp tính – Thiếu máu chi cấp tính là tình trạng sụt giảm tưới máu chi đột ngột, có thể đe dọa khả năng bảo tồn chi và thường do tắc động mạch cấp tính; nguyên nhân do tĩnh mạch là hiếm gặp. Tắc động mạch cấp tính thường liên quan đến huyết khối cấp tính trên một động mạch đã có bệnh lý nhưng trước đó vẫn thông suốt (thường gặp nhất là xơ vữa động mạch), hoặc có thể do huyết khối cấp tính tại stent hoặc cầu nối, bóc tách động mạch, chấn thương trực tiếp động mạch, hoặc là kết quả của một vật gây tắc (embolus) từ nguồn gần di chuyển và kẹt tại mạch máu vùng xa hơn (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu và định nghĩa’ và ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của tắc động mạch cấp tính phụ thuộc vào thời gian tắc mạch, vị trí mạch máu bị tổn thương, bệnh lý mạch máu nền và khả năng huy động các nhánh tuần hoàn bàng hệ để cung cấp dòng máu đi vòng qua vị trí tắc. Khiếm khuyết cảm giác chủ quan là dấu hiệu sớm của rối loạn chức năng thần kinh, trong khi mất cảm giác hoặc vận động nghiêm trọng cho thấy tình trạng thiếu máu đã tiến triển nặng. Vị trí tắc động mạch thường nằm trên một khớp so với đường ranh giới giữa mô bình thường và mô thiếu máu. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
Các dấu hiệu thực thể điển hình của thiếu máu chi cấp tính ở bệnh nhân không có bệnh lý tắc mạch nền là 6 chữ P (pain – đau, pallor – nhợt nhạt, pulselessness – mất mạch, poikilothermia – lạnh chi, paresthesia – dị cảm, và paralysis – liệt).
Đối với những bệnh nhân đã biết mắc bệnh động mạch ngoại vi tắc nghẽn hoặc những người từng được tái thông mạch máu (ví dụ: phẫu thuật sửa chữa động mạch, bắc cầu động mạch, đặt stent động mạch), các triệu chứng tắc động mạch có thể khởi phát trong khoảng thời gian thay đổi (từ vài giờ đến vài ngày).
Phân loại thiếu máu cục bộ – Cần thực hiện thăm khám chi toàn diện và ghi chép phân loại thiếu máu cục bộ (bảng 2) để hỗ trợ phân tầng trong đánh giá chẩn đoán và điều trị tiếp theo. (Xem thêm phần ‘Phân loại lâm sàng của thiếu máu cục bộ’ ở dưới.)
- Chi còn khả năng cứu chữa (Viable): không bị đe dọa mất mô ngay lập tức.
- Chi đe dọa nhẹ (Marginally threatened): có thể cứu vãn nếu được điều trị kịp thời.
- Chi đe dọa nghiêm trọng (Immediately threatened): có thể cứu vãn nếu được tái thông mạch máu khẩn cấp.
- Chi thiếu máu không hồi phục (Irreversible): sẽ cần đoạn chi lớn bất kể phương pháp điều trị nào được áp dụng.
Chẩn đoán hình ảnh mạch máu – Bệnh nhân có chi còn khả năng cứu chữa hoặc chi đe dọa nhẹ thường là đối tượng chỉ định chụp hình ảnh mạch máu khẩn cấp (chụp CT mạch máu – CTA, chụp động mạch qua catheter) để đánh giá giải phẫu động mạch. Khi chỉ định tiêu sợi huyết phù hợp, việc tiến hành trực tiếp chụp động mạch qua catheter sẽ giúp đẩy nhanh quá trình điều trị và giảm thiểu tổng lượng thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch. Đối với bệnh nhân có chi bị đe dọa nghiêm trọng, việc đánh giá và điều trị tiếp theo nên được ưu tiên thực hiện ngay tại phòng mổ. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán hình ảnh mạch máu’ ở dưới.)