TÓM TẮT
Định nghĩa
- Chấn thương sọ não nhẹ – Đối với trẻ nhũ nhi, chấn thương sọ não nhẹ được xác định khi trẻ tỉnh táo hoặc thức giấc khi gọi hoặc chạm nhẹ, nhưng có tiền sử hoặc dấu hiệu lâm sàng của chấn thương cùn vùng da đầu, xương sọ hoặc não.
- Ở trẻ từ hai tuổi trở lên, chấn thương sọ não nhẹ được định nghĩa là những trẻ có chấn thương vùng đầu nhưng có điểm Glasgow Coma Scale (GCS) từ 14 đến 15, khám lâm sàng bình thường và không có bằng chứng thực thể của gãy xương sọ (Xem mục ‘Định nghĩa’ ở dưới).
- Chấn thương sọ não có ý nghĩa lâm sàng (ciTBI) – ciTBI được định nghĩa là tổn thương nội sọ cần can thiệp ngoại thần kinh, theo dõi sát và chăm sóc hỗ trợ, hoặc phải nhập viện kéo dài; hoặc dẫn đến tử vong, gãy lún xương sọ cần phẫu thuật nâng, hoặc gãy nền sọ (Xem mục ‘Chấn thương sọ não có ý nghĩa lâm sàng’ ở dưới).
Xử trí – Việc xử trí trẻ nhũ nhi và trẻ em chấn thương sọ não nhẹ dựa trên các phát hiện lâm sàng và kết quả chẩn đoán hình ảnh thần kinh nếu có (xem mục ‘Xử trí’ ở dưới):
- Chấn thương sọ não (TBI) trên chẩn đoán hình ảnh hoặc diễn tiến lâm sàng xấu đi – Cần thực hiện các can thiệp để điều trị tăng áp lực nội sọ (ICP) (bảng 2) nếu nghi ngờ, đồng thời hội chẩn ngoại thần kinh khẩn cấp cho bệnh nhân có bất kỳ dấu hiệu nào sau đây (xem mục ‘TBI trên chẩn đoán hình ảnh hoặc diễn tiến lâm sàng xấu đi’ ở dưới):
- Tổn thương não phát hiện được trên chẩn đoán hình ảnh (xem “Xuất huyết dưới màng cứng (SDH) nội sọ ở trẻ em: Xử trí” và “Xuất huyết ngoài màng cứng nội sọ ở trẻ em”).
- Gãy lún, gãy nền sọ hoặc gãy tách rộng xương sọ (xem “Gãy xương sọ ở trẻ em: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và xử trí”).
- Tình trạng lâm sàng xấu đi (ví dụ: điểm GCS ≤12 hoặc giảm nhanh) bất kể kết quả chẩn đoán hình ảnh (xem “Chấn thương sọ não (TBI) nặng ở trẻ em: Đánh giá và xử trí ban đầu”).
- Nguy cơ thấp đối với ciTBI – Chúng tôi khuyến cáo rằng trẻ nhũ nhi và trẻ em chấn thương sọ não nhẹ, sau khi được đánh giá toàn diện và được xác định có nguy cơ thấp đối với ciTBI dựa trên lâm sàng (ví dụ: cơ chế chấn thương nhẹ, không có triệu chứng, không nghi ngờ bạo hành trẻ em và khám lâm sàng bình thường) hoặc theo quy tắc của Mạng lưới Nghiên cứu Ứng dụng Chăm sóc Cấp cứu Nhi khoa (PECARN) (bảng 3), có thể cho xuất viện mà không cần chẩn đoán hình ảnh thần kinh và không cần nhập viện (Khuyến cáo 1B). (Xem mục ‘Nguy cơ thấp’ ở dưới).
- Nguy cơ không thấp đối với ciTBI – Quyết định nhập viện hoặc cho xuất viện đối với trẻ nhũ nhi và trẻ em không có nguy cơ thấp đối với ciTBI dựa trên lâm sàng hoặc quy tắc PECARN (bảng 3) sẽ tùy thuộc vào phương pháp tiếp cận và các phát hiện tiếp theo như sau (xem mục ‘Nguy cơ không thấp’ ở dưới):
- Không chẩn đoán hình ảnh nhưng triệu chứng cải thiện trong thời gian theo dõi – Chúng tôi gợi ý rằng trẻ nhũ nhi hoặc trẻ em có nguy cơ trung bình đối với ciTBI và được theo dõi mà không chẩn đoán hình ảnh nên được cho xuất viện thay vì nhập viện nếu các triệu chứng ban đầu cải thiện trong thời gian theo dõi lên đến 4 đến 6 giờ sau chấn thương và đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn xuất viện an toàn (Khuyến cáo 2B).
- Chẩn đoán hình ảnh bình thường và triệu chứng cải thiện – Chúng tôi khuyến cáo trẻ nhũ nhi và trẻ em chấn thương sọ não nhẹ ban đầu không có nguy cơ thấp đối với ciTBI nhưng có kết quả chẩn đoán hình ảnh bình thường, mức độ tỉnh táo bình thường và đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn xuất viện thì nên được cho xuất viện thay vì nhập viện (Khuyến cáo 1B).
- Triệu chứng kéo dài hoặc xấu đi – Trẻ nhũ nhi và trẻ em có triệu chứng kéo dài hoặc nặng dần theo thời gian cần được chẩn đoán hình ảnh (nếu chưa thực hiện) và xử trí theo kết quả X-quang/CT/MRI. (Xem “Chấn thương sọ não cùn nhẹ ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ (<2 tuổi): Đặc điểm lâm sàng và đánh giá”, phần ‘Tiếp cận’).
- Co giật sớm sau chấn thương – Trẻ em bị co giật sau chấn thương sọ não nhẹ cần được chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Phương pháp tiếp cận những bệnh nhân này dựa trên tiền sử bệnh lý, tiền sử gia đình và đặc điểm của cơn co giật. Trẻ em đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây có thể được cho xuất viện: không có tiền sử co giật, không có tiền sử động kinh trong gia đình, cơn co giật ngắn và toàn thể, chẩn đoán hình ảnh bình thường. (Xem mục ‘Co giật sớm sau chấn thương’ ở dưới và “Co giật và động kinh sau chấn thương”).
Tiêu chuẩn xuất viện – Trước khi xuất viện, bệnh nhân chấn thương sọ não nhẹ cần đáp ứng các điều kiện sau, nếu không sẽ phải tiếp tục theo dõi tại bệnh viện hoặc nhập viện (xem mục ‘Tiêu chuẩn xuất viện’ ở dưới):
- Không nghi ngờ tổn thương do bạo hành hoặc cố ý gây ra.
- Dễ dàng thức tỉnh khi chạm nhẹ và khám thần kinh bình thường.
- Hồi phục về mức độ chức năng cơ bản.
- Dung nạp được việc ăn/uống qua đường miệng.
- Không có tổn thương ngoài sọ cần thiết phải nhập viện.
- Người chăm sóc có đủ năng lực để theo dõi trẻ một cách tin cậy và có thể đưa trẻ quay lại bệnh viện khi có chỉ định.
Quay lại hoạt động thể thao – Bất kỳ trẻ nào có triệu chứng của chấn động não do chấn thương sọ não nhẹ không được tham gia thể thao cho đến khi được một chuyên gia có chứng chỉ cho phép (ví dụ: huấn luyện viên thể thao, bác sĩ chăm sóc ban đầu hoặc chuyên gia về chấn động não [như chuyên gia y học thể thao, bác sĩ nội thần kinh hoặc bác sĩ ngoại thần kinh]). (Xem mục ‘Quay lại hoạt động thể thao’ ở dưới và “Chấn động não ở trẻ em và vị thành niên: Xử trí”).