TÓM TẮT
Chức năng tim mạch trong khi ngủ
-
Sinh lý bình thường – Ở những người khỏe mạnh không mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), các cơ chế điều hòa của hệ thần kinh tự chủ, bao gồm hệ phản xạ hóa học và phản xạ áp lực (baroreflex), kiểm soát chặt chẽ chức năng tim mạch và tuần hoàn trong khi ngủ. (Xem ‘Chức năng tim mạch bình thường trong khi ngủ’ ở dưới.)
Trong giai đoạn giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (NREM), nhịp tim và huyết áp (BP) có xu hướng giảm. Ngược lại, trong giai đoạn giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM), nhịp tim và huyết áp biến thiên mạnh. Nhìn chung, giấc ngủ sinh lý bình thường gắn liền với mức huyết áp thấp hơn so với khi thức (hiện tượng “dipping” – giảm huyết áp về đêm).
-
Thay đổi ở bệnh nhân OSA – Ở bệnh nhân OSA, các đợt tắc nghẽn đường thở một phần hoặc hoàn toàn gây ra tình trạng thiếu oxy ngắt quãng, tăng CO2 máu và dao động áp lực trong lồng ngực (dạng sóng 1). Những thay đổi này làm rối loạn kiểm soát thần kinh tự chủ, thông qua trung gian là các thụ thể hóa học trung ương, ngoại vi và hệ phản xạ áp lực. (Xem ‘Rối loạn kiểm soát thần kinh’ ở dưới.)
-
Hệ lụy lâm sàng – Những thay đổi về chức năng tim mạch trong khi ngủ ở bệnh nhân OSA dẫn đến một loạt các tác động lâm sàng:
-
Nhịp tim và huyết áp – So với người khỏe mạnh, bệnh nhân OSA có nhịp tim và độ biến thiên nhịp tim tăng, hiện tượng giảm huyết áp về đêm bị suy giảm (gọi là “non-dipping”) và huyết áp trung bình tăng. Theo thời gian, việc tiếp xúc lặp đi lặp lại với quá trình bệnh lý phức tạp này có thể dẫn đến tình trạng tăng huyết áp kéo dài cả khi thức. (Xem ‘Thay đổi nhịp tim’ và ‘Thay đổi huyết áp’ ở dưới.)
-
Chuỗi phản ứng viêm – Các hệ lụy tim mạch khác của OSA được điều phối bởi một chuỗi các sự kiện, bao gồm gia tăng đáp ứng viêm toàn thân, tăng sản sinh các gốc oxy tự do, và thay đổi quá trình đông máu cũng như tiêu sợi huyết. Tình trạng này trầm trọng hơn do các tổn thương nội mạc cũng như thay đổi sức cản mạch máu ngoại vi. (Xem ‘Đáp ứng viêm trong ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn’, ‘Stress oxy hóa trong ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn’, ‘Tăng đông máu trong ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn’ và ‘Rối loạn chức năng nội mạc và sức cản mạch máu’ ở dưới.)
-
Cấu trúc và chức năng tim – Trẻ em và thanh thiếu niên mắc OSA có thể xuất hiện những thay đổi về cấu trúc và chức năng tim (bảng 2). (Xem ‘Thay đổi cấu trúc và chức năng tim’ ở dưới.)
-