Tình huống
Một bé trai 1 tuổi được đưa đến phòng khám để khám sức khỏe định kỳ sau khi gia đình mới chuyển đến khu vực này. Bệnh nhi sinh đủ tháng, tăng trưởng và phát triển bình thường. Chế độ ăn hàng ngày của trẻ gồm thịt, mì ống và uống 300 ml sữa nguyên kem; tuy nhiên, trẻ không ăn trái cây và rau quả. Bệnh nhi không dùng thuốc hay vitamin bổ sung. Cân nặng và chiều cao ở bách phân vị thứ 50. Khám lâm sàng ghi nhận kết mạc và niêm mạc nhợt. Tim không nghe tiếng thổi, phổi bình thường, bụng mềm, không thấy gan lách to.
Kết quả công thức máu toàn phần như sau:
- Hemoglobin: 10 g/dL (bình thường: 10,5-13,5)
- Số lượng hồng cầu: 6,1 triệu/mm³ (bình thường: 3,7-6)
- Thể tích trung bình hồng cầu (MCV): 60 fL (bình thường: 70-86)
- Độ phân bố kích thước hồng cầu (RDW): 13% (bình thường: 11,5%-14,5%)
- Hồng cầu lưới: 4% (bình thường: 0,5%-1,5%)
Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra tình trạng thiếu máu của bệnh nhi này?