Tình huống
Một bệnh nhân nữ 64 tuổi đến khám vì đau đầu vùng thái dương hai bên, tình trạng này tiến triển nặng dần trong một tuần qua. Bệnh nhân cũng bị chóng mặt, nhìn mờ và tê bì, mất cảm giác ở bàn chân. Bệnh nhân không sốt và không bị đau cách hồi hàm. Tiền sử ghi nhận tăng huyết áp, đang điều trị bằng lisinopril. Bệnh nhân không hút thuốc lá hoặc uống rượu. Ghi nhận sinh hiệu: nhiệt độ 37,2°C, huyết áp 140/90 mmHg, mạch 70 lần/phút, nhịp thở 16 lần/phút. Khám thực thể cho thấy niêm mạc miệng ẩm, màng nhĩ bình thường, không có điểm đau khi ấn vùng xoang hoặc vùng thái dương. Đồng tử hai bên đều và phản xạ ánh sáng tốt. Thị lực giảm ở cả hai mắt; khám đáy mắt cho thấy các tĩnh mạch võng mạc bị giãn, chia đoạn và ngoằn ngoèo. Cảm giác và vận động cơ mặt bình thường. Sức mạnh cơ chi trên và chi dưới hai bên bình thường. Ghi nhận giảm cảm giác đau (pinprick) và mất phản xạ gân gót hai bên bàn chân. Kết quả xét nghiệm như sau:
- Công thức máu: Hemoglobin 112 g/L, Tiểu cầu 180.000/mm³, Bạch cầu 8.000/mm³
- Hóa sinh huyết thanh: Creatinine 0,8 mg/dL, Canxi 9,6 mg/dL, Protein toàn phần 105 g/L, Albumin 37 g/L
- Tốc độ lắng máu (ESR): 80 mm/giờ
Xét nghiệm chẩn đoán tiếp theo phù hợp nhất cho bệnh nhân này là gì?