Một phụ nữ 48 tuổi nhập viện để phẫu thuật cắt túi mật theo chương trình điều trị sỏi túi mật có triệu chứng (S4994)

Tình huống

Một phụ nữ 48 tuổi nhập viện để phẫu thuật cắt túi mật theo chương trình điều trị sỏi túi mật có triệu chứng. Bệnh nhân có các cơn đau quặn mật tái phát và tăng dần về cường độ, siêu âm cho thấy nhiều sỏi túi mật. Tiền sử ghi nhận tăng huyết áp và béo phì. Đánh giá tiền phẫu và xét nghiệm máu trong giới hạn bình thường. Bệnh nhân được dùng cefazolin dự phòng nhiễm khuẩn vết mổ và phẫu thuật dưới gây mê toàn thân. Một ống thông Foley được đặt trước phẫu thuật. Phẫu thuật nội soi được chuyển sang mổ mở do khó khăn về mặt giải phẫu; cuộc mổ diễn ra suôn sẻ với lượng máu mất tối thiểu.

Hai giờ sau mổ, bệnh nhân ghi nhận sốt 38,9°C. Huyết áp 140/85 mmHg, mạch 104 lần/phút, nhịp thở 18 lần/phút. Bệnh nhân tỉnh táo, báo cáo đau nhẹ tại vết mổ. Catheter tĩnh mạch trung tâm đặt ở tĩnh mạch cảnh trong phải (đặt trong phòng mổ) ở vị trí tốt, không sưng đỏ tại chỗ đặt. Phổi nghe trong, tiếng tim bình thường. Vết mổ sạch, dịch tiết huyết thanh tối thiểu, không phù chi dưới.

Kết quả xét nghiệm hiện tại như sau:

  • Tổng phân tích tế bào máu: Hemoglobin 104 g/L, Tiểu cầu 240 G/L, Bạch cầu 14 G/L, Neutrophil 80%
  • Sinh hóa máu: Natri 136 mmol/L, Kali 4,4 mmol/L, Bicarbonate 26 mmol/L, Creatinine 70 µmol/L
  • Chức năng gan: Bilirubin toàn phần 22 µmol/L, Alkaline phosphatase 70 U/L, AST 37 U/L, ALT 49 U/L
  • Khí máu động mạch: pH 7,4, PaO2 11,4 kPa (86 mmHg), PaCO2 4,5 kPa (34 mmHg)

X-quang ngực cho thấy giảm thể tích phổi và có các vùng mờ nhẹ ở vùng phân thùy dưới hai bên. Bước tiếp theo nào là phù hợp nhất trong xử trí sốt của bệnh nhân này?