Tình huống
Một phụ nữ 44 tuổi đến khám vì tình trạng khó thở khi gắng sức ngày càng trầm trọng trong 6 tháng qua. Bệnh nhân cảm thấy khó thở khi đi bộ khoảng 200m trên đường bằng. Cô không bị đau ngực, khó thở khi nằm, chóng mặt hay ngất xỉu, nhưng báo cáo gần đây có bị sưng chi dưới và bụng chướng. Tiền sử bệnh lý đáng chú ý là bệnh trào ngược dạ dày thực quản nặng và hiện tượng nhợt nhạt, tím tái đầu ngón tay gây đau khi gặp lạnh. Bệnh nhân có tiền sử hút thuốc 20 gói-năm nhưng đã bỏ cách đây 8 năm. Huyết áp 133/82 mmHg, mạch 75 lần/phút và nhịp thở 20 lần/phút. Độ bão hòa oxy trong máu (SpO2) khi nghỉ ngơi là 90% và giảm xuống 86% khi gắng sức. Phổi nghe trong cả hai bên, luồng khí lưu thông tốt và không có ran. Khám tim cho thấy tiếng thành phần P2 của tiếng S2 mạnh ở bờ trái trên xương ức. Áp lực tĩnh mạch cổ tăng. Phù chi dưới mức độ 2+. Khám da cho thấy loét và xơ cứng da ở các đầu ngón tay. Kết quả thăm dò chức năng hô hấp như sau:
- Hô hấp ký: FVC bình thường
- FEV1 bình thường
- Chỉ số FEV1/FVC: 0,82
- Thể tích phổi: Dung tích phổi toàn bộ (TLC) bình thường
- Thể tích khí cặn (RV) bình thường
- Khả năng khuếch tán: Khả năng khuếch tán của phổi đối với carbon monoxide (DLCO) giảm nặng
Kháng thể anticentromere dương tính. X-quang ngực bình thường. Điện tâm đồ (ECG) cho thấy trục tim lệch phải. Nguyên nhân nào sau đây là khả năng cao nhất gây ra các triệu chứng của bệnh nhân này?