Tiếp cận chẩn đoán nhiễm Helicobacter pylori ở người lớn

TÓM TẮT

Chỉ định xét nghiệm – Chúng tôi chỉ thực hiện xét nghiệm Helicobacter pylori khi kết quả dương tính sẽ dẫn đến chỉ định điều trị. Các chỉ định xét nghiệm bao gồm các tình trạng mà H. pylori đóng vai trò là nguyên nhân gây bệnh, các đặc điểm liên quan đến tăng nguy cơ ung thư dạ dày, một số bệnh lý huyết học chọn lọc, và những trường hợp mà việc điều trị có thể làm giảm các biến chứng liên quan đến việc sử dụng aspirin hoặc thuốc chống viêm không steroid (NSAID) (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Thời điểm xét nghiệm’ ở dưới.)

Thời điểm xét nghiệm – Xét nghiệm chẩn đoán H. pylori ban đầu nên được thực hiện sau khi bệnh nhân đã ngừng sử dụng kháng sinh (bao gồm cả bismuth) ít nhất 4 tuần và ngừng sử dụng thuốc ức chế bơm proton (PPI) hoặc thuốc chèn kênh kali ức chế acid (PCAB) trong 2 tuần, nếu có thể. (Xem thêm mục ‘Thời điểm xét nghiệm’ ở dưới.)

Lựa chọn xét nghiệm chẩn đoán ban đầu

  • Bệnh nhân không có chỉ định nội soi tiêu hóa trên – Ở những bệnh nhân này, chúng tôi thực hiện các xét nghiệm không xâm lấn như test hơi thở urease (UBT) hoặc xét nghiệm kháng nguyên trong phân để tìm nhiễm H. pylori đang hoạt động (sơ đồ 2). Xét nghiệm huyết thanh hiện không còn được khuyến cáo vì không phân biệt được nhiễm trùng đang hoạt động với nhiễm trùng trong quá khứ. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân không thực hiện nội soi tiêu hóa trên’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên không có xuất huyết cấp – Xét nghiệm mô bệnh học và test urease là những phương pháp được ưu tiên. Mô bệnh học có thể phát hiện các thay đổi bệnh lý của mô (ví dụ: chuyển sản ruột dạ dày) và có độ nhạy cao hơn, đặc biệt khi kết hợp với hóa mô miễn dịch. Test urease có ưu điểm là nhanh, chi phí thấp và độ chính xác tương đối cao. (Xem thêm mục ‘Không có xuất huyết loét tiêu hóa cấp’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân nội soi tiêu hóa trên có xuất huyết cấp – Chúng tôi thực hiện sinh thiết dạ dày để tìm H. pylori trong lần nội soi đầu tiên, trừ khi không khả thi do tình trạng bệnh nhân không ổn định. Do xuất huyết cấp làm giảm độ nhạy của xét nghiệm mô bệnh học và test urease, xét nghiệm huyết thanh H. pylori là một phương án thay thế trong những trường hợp này, dù cần lưu ý về các hạn chế trong chẩn đoán (sơ đồ 2).

    Những bệnh nhân có kết quả xét nghiệm không phải huyết thanh là âm tính cần được xét nghiệm bổ sung sau khi tình trạng xuất huyết đã ổn định và bệnh nhân không còn sử dụng liệu pháp ức chế acid. (Xem thêm mục ‘Có xuất huyết loét tiêu hóa cấp’ ở dưới.)

Xác nhận diệt trừ – Tất cả bệnh nhân nên được xét nghiệm để xác nhận đã diệt trừ hoàn toàn H. pylori. Chúng tôi thường thực hiện test hơi thở urease, xét nghiệm kháng nguyên trong phân hoặc nội soi tiêu hóa trên ít nhất 4 tuần sau khi hoàn tất điều trị, và yêu cầu ngưng sử dụng thuốc ức chế bơm proton hoặc thuốc chèn kênh kali ức chế acid trong 2 tuần trước khi xét nghiệm. (Xem thêm “Điều trị nhiễm Helicobacter pylori ở người lớn”, mục ‘Xác nhận diệt trừ (“test of cure”)’.)

Xét nghiệm kháng sinh đồ (AST) – Những bệnh nhân vẫn nhiễm H. pylori dai dẳng sau hai hoặc nhiều liệu trình điều trị đúng theo hướng dẫn nên được thực hiện AST để định hướng điều trị tiếp theo. (Xem thêm “Điều trị nhiễm Helicobacter pylori ở người lớn”, mục ‘Lựa chọn phác đồ điều trị cứu vãn’.)

Các lựa chọn xét nghiệm bao gồm xét nghiệm phân bằng phương pháp phân tử hoặc gửi mẫu sinh thiết để làm AST thông qua xét nghiệm phân tử hoặc nuôi cấy vi khuẩn. Bệnh nhân cần ngưng PPI và PCAB trong 2 tuần, ngưng bismuth hoặc kháng sinh trong 4 tuần trước khi thực hiện AST. (Xem thêm mục ‘Xét nghiệm kháng sinh đồ’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here