TÓM TẮT
- Thuật ngữ – Tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát (Nonsuicidal self-injury – NSSI) là hành vi cố ý phá hủy mô cơ thể mà không có ý định tử vong và không vì các mục đích được xã hội chấp nhận. (Xem thêm ‘Giới thiệu’ và ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)
- Tần suất – Trong các mẫu lâm sàng ở thanh thiếu niên có hành vi tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát, số lần khởi phát trung bình trong suốt cuộc đời có thể dao động từ vài chục đến hàng trăm lần. Trong các mẫu cộng đồng, tần suất này trung bình từ 2 đến 10 lần, và khoảng 25% đến 30% thanh thiếu niên chỉ tự gây thương tích một lần duy nhất. (Xem thêm ‘Tần suất tự gây thương tích’ ở dưới.)
- Phương pháp tự gây thương tích – Trong số các bệnh nhân tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát, phương pháp phổ biến nhất là rạch da bằng vật sắc nhọn. Các phương pháp khác bao gồm khắc chữ hoặc ký hiệu lên da, đốt bằng vật nóng (như thuốc lá đang cháy), đập hoặc đánh vào các bộ phận cơ thể (bao gồm cả vùng đầu), cào hoặc cắn đến mức chảy máu, chà xát da vào các bề mặt thô ráp gây đỏ hoặc chảy máu, cạy vết thương, hoặc đâm kim/vật nhọn vào dưới da. Hầu hết những bệnh nhân thực hiện hành vi này nhiều lần thường sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau trong suốt cuộc đời. (Xem thêm ‘Phương pháp tự gây thương tích’ ở dưới.)
- Mức độ nghiêm trọng về y khoa – Hầu hết các tổn thương do tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát đều ở mức nông và không yêu cầu điều trị y tế. (Xem thêm ‘Mức độ nghiêm trọng về y khoa’ ở dưới.)
- Vị trí trên cơ thể – Hành vi tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát (ví dụ: rạch da) thường xảy ra nhất ở cánh tay, bàn tay, cổ tay và đùi, nhưng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể. (Xem thêm ‘Vị trí trên cơ thể’ ở dưới.)
- Đau thể xác, bất ổn cảm xúc và suy giảm chức năng – Tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát thường liên quan đến việc giảm nhạy cảm với đau thể xác, giúp giảm ngắn hạn các trải nghiệm cảm xúc tiêu cực (như lo âu, tức giận và buồn bã), nhưng sau đó lại làm tăng mức độ bất ổn cảm xúc (tội lỗi, xấu hổ) và gây suy giảm chức năng học tập cũng như xã hội. (Xem thêm ‘Đau thể xác’, ‘Bất ổn cảm xúc’ và ‘Suy giảm chức năng’ ở dưới và “Nonsuicidal self-injury in children and adolescents: Pathogenesis”, phần ‘Function of the behavior’.)
- Mối liên quan với các rối loạn tâm thần – Nhiều thanh thiếu niên tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của một rối loạn tâm thần; một số rối loạn tâm thần xuất hiện phổ biến hơn ở những đối tượng này so với những người không tự gây thương tích. Ngoài ra, hành vi này cũng thường gặp hơn ở bệnh nhân có rối loạn tâm thần so với người không mắc các rối loạn này. (Xem thêm ‘Mối liên quan với các rối loạn tâm thần’ ở dưới.)
- Mối liên quan với hành vi tự sát
Tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát và hành vi tự sát khác nhau ở một số điểm. Ví dụ, hai hành vi này khác nhau về động cơ; theo định nghĩa, tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát thiếu đi ý định tự tử. Đây không phải là một nỗ lực tự sát thất bại; bệnh nhân thường sử dụng hành vi này để điều hòa các cảm xúc tiêu cực, từ đó tránh tiến tới hành vi tự sát.
Tuy nhiên, hai hành vi này thường đồng xuất hiện ở thanh thiếu niên, đặc biệt là trong các mẫu lâm sàng. Thêm vào đó, tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát là một yếu tố nguy cơ mạnh mẽ dẫn đến hành vi tự sát trong tương lai, thậm chí là yếu tố nguy cơ mạnh hơn cả tiền sử từng nỗ lực tự sát. (Xem thêm ‘Mối liên quan với hành vi tự sát’ ở dưới.)
- Diễn tiến bệnh – Những người tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát thường chỉ thực hiện một lần, và hầu hết những người lặp lại hành vi này cuối cùng sẽ dừng lại sau thời kỳ thanh thiếu niên. (Xem thêm ‘Diễn tiến bệnh’ ở dưới.)
- Tiêu chuẩn chẩn đoán đề xuất – Mặc dù tự gây thương tích không nhằm mục đích tự sát chưa phải là một chẩn đoán chính thức, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ đã đề xuất các tiêu chuẩn chẩn đoán để nghiên cứu thêm nhằm xác định liệu đây có phải là một rối loạn tâm thần độc lập và riêng biệt hay không. (Xem thêm ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán đề xuất’ ở dưới.)