Bệnh lý di căn
Di căn đến bàn chân là trường hợp hiếm gặp. Trong một loạt 694 bệnh nhân di căn xương, chỉ có 14 trường hợp xảy ra ở bàn chân 44. Trong đó, xương gót và xương sên là vị trí ghi nhận 12 trên 14 ca ung thư này. Các khối u nguyên phát thường di căn đến bàn chân nhất bao gồm ung thư hệ tiết niệu – sinh dục, ung thư vú, ung thư đại trực tràng và ung thư phổi 45-47. (Xem thêm “Dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán di căn xương ở người trưởng thành”.)
TÓM TẮT
Dịch tễ học và cơ chế – Đau vùng gót chân, đặc biệt là vùng lòng bàn chân, tương đối phổ biến ở những bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên (hình 1). Kiểu tiếp đất bằng bàn chân sấp khi đi bộ hoặc chạy bộ có liên quan đến tỷ lệ đau gót chân cao hơn. Ngoài ra, tình trạng mòn giày nhiều, đứng kéo dài trên bề mặt cứng, hoạt động thể thao và chỉ số khối cơ thể (BMI) cao cũng là những yếu tố liên quan đến đau gót chân. (Xem mục Dịch tễ học của đau vùng sau bàn chân khu trú ở dưới.)
Tiền sử và thăm khám lâm sàng – Các yếu tố quan trọng trong khai thác tiền sử và thăm khám cho bệnh nhân đau bàn chân nói chung đã được xem xét riêng biệt. Những khía cạnh đặc biệt liên quan đến đau gót chân được thảo luận chi tiết ở trên. (Xem “Tổng quan về giải phẫu, cơ sinh học bàn chân và đánh giá đau bàn chân ở người trưởng thành”, phần ‘Tiếp cận chẩn đoán dựa trên giải phẫu’ và mục Tiền sử và thăm khám ở dưới.)
Các cấu trúc quan trọng vùng gót chân cần quan sát và thăm khám bao gồm:
- Vị trí của xương gót khi đứng: Có hiện tượng lệch vẹo trong (varus hình 2) hay lệch vẹo ngoài (valgus hình 4) không?
- Sưng nề tại bất kỳ vị trí nào của vùng gót chân: Tình trạng sưng có khu trú ở vùng phía trước và phía dưới mắt cá ngoài không?
- Hình thái của xoang tarsal (sinus tarsi).
- Kiểu vòm dọc bàn chân (hình 9): vòm cao (cavus hình 5), trung tính, hoặc vòm phẳng/bàn chân bẹt (planus hình 6).
- Dày bất thường gân Achilles hoặc bất kỳ bất thường về xương nào. Việc so sánh hai bàn chân có thể mang lại giá trị chẩn đoán.
- Điểm bám của cân gan chân, đặc biệt là tại vị trí mặt trong xương gót (hình 7 và hình 6).
- Củ xương gót ở mặt lòng bàn chân.
- Đường viền xương gót ở phía ngoài, phía trong và phía sau.
- Gân Achilles và điểm bám của gân vào xương gót (hình 10).
- Các gân cổ chân trong và ngoài, đặc biệt là đoạn đi qua các mắt cá tương ứng (hình 10 và hình 11).
Tiếp cận chẩn đoán và các nguyên nhân thường gặp – Quy trình tiếp cận chẩn đoán đề xuất cho bệnh nhân đau gót chân đã được mô tả ở trên. Các câu hỏi quan trọng cần khai thác và các dấu hiệu lâm sàng then chốt để đánh giá đau gót chân được tóm tắt trong bảng sau (bảng 1). Các đặc điểm phân biệt quan trọng bao gồm:
- Thời điểm khởi phát đau (cấp tính hay mạn tính)
- Có chấn thương hay không chấn thương
- Mối liên quan với tình trạng quá tải (overuse)
- Mối liên quan với các triệu chứng toàn thân
- Vị trí đau (gót chân trước hay sau, trong hay ngoài, vùng gót lòng bàn chân)
Các nguyên nhân cụ thể gây đau gót chân được tóm tắt trong văn bản và các lưu đồ sau (sơ đồ 1 và sơ đồ 2). Những nguyên nhân phổ biến bao gồm viêm cân gan chân và tổn thương gân Achilles. (Xem mục Tiếp cận chẩn đoán đau vùng sau bàn chân và Các nguyên nhân gây đau vùng sau bàn chân thường gặp ở dưới.)