TÓM TẮT
Giới thiệu – Bệnh nhân ung thư vú sporadic (ngẫu nhiên) đơn phương có nguy cơ phát triển ung thư vú đối bên (CBC) ở mức khiêm tốn, và hầu hết phụ nữ sẽ không bao giờ phát triển ung thư vú thứ hai ở bên đối diện. (Xem thêm ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Cơ sở lý luận – Mục đích của phẫu thuật cắt bỏ vú dự phòng đối bên (CPM) ở bệnh nhân ung thư vú là nhằm giảm thiểu nguy cơ mắc CBC. Các lý do khác để thực hiện CPM bao gồm: thuận tiện hơn trong theo dõi mà không cần chụp X-quang tuyến vú hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI), giảm lo âu về việc xuất hiện ung thư vú thứ hai, và mong muốn đạt được sự cân đối thông qua phẫu thuật cắt bỏ vú hai bên kết hợp tái tạo. (Xem thêm ‘Cơ sở lý luận’ ở dưới.)
Lựa chọn ứng viên – Phẫu thuật cắt bỏ vú giảm nguy cơ thường được chỉ định cho những bệnh nhân (có hoặc không có tiền sử ung thư vú) mang đột biến gen dòng mầm gây nguy cơ cao (như gen nhạy cảm với ung thư vú 1 và 2 [BRCA1/2], protein khối u p53 [TP53], phosphatase và tensin homolog [PTEN], cadherin 1 [CDH1], hoặc serine/threonine protein kinase 11 [STK11]), những người có tiền sử gia đình mắc ung thư vú hoặc buồng trứng đậm đặc, và những người có tiền sử xạ trị vùng ngực trước 30 tuổi.
Quyết định thực hiện CPM dựa trên các yếu tố nêu trên, đồng thời được cá thể hóa theo nguyện vọng và tiền sử của từng bệnh nhân, có xem xét đến phương pháp phẫu thuật điều trị ung thư vú hiện tại (ví dụ: cắt bỏ vú), nguy cơ mắc bệnh đối bên khi đã có ung thư cùng bên, cũng như mong muốn về tính thẩm mỹ (đối xứng) và tâm lý lo lắng trong quá trình theo dõi bằng chẩn đoán hình ảnh. (Xem thêm ‘Lựa chọn ứng viên’ và ‘Quá trình ra quyết định’ ở dưới.)
Giảm nguy cơ ung thư vú – Phụ nữ mắc ung thư vú, có tiền sử gia đình bị ung thư vú hoặc buồng trứng khi thực hiện CPM sẽ giảm 96% nguy cơ phát triển ung thư vú đối bên. (Xem thêm ‘Giảm nguy cơ ung thư vú’ ở dưới.)
Ảnh hưởng đến sống còn toàn bộ – Đối với hầu hết bệnh nhân ung thư vú, CPM không mang lại lợi ích rõ rệt về sống còn toàn bộ, mặc dù hiện vẫn thiếu các dữ liệu ngẫu nhiên tiền cứu. Tuy nhiên, lợi ích sống còn khi thực hiện CPM có ghi nhận ở những bệnh nhân mang đột biến có hại BRCA1 hoặc BRCA2, và có thể ở những người được chẩn đoán ở tuổi trẻ (dưới 50 tuổi). (Xem thêm ‘Sống còn toàn bộ’ ở dưới.)
Biến chứng – Phụ nữ ung thư vú thực hiện CPM có nguy cơ gặp các biến chứng nặng (ví dụ: phải phẫu thuật lại) tăng gần gấp đôi so với những người chỉ thực hiện cắt bỏ vú một bên. (Xem thêm ‘Tỉ lệ bệnh tật và tử vong sau phẫu thuật’ ở dưới.)
Tiếp cận phẫu thuật – Thông thường, phương pháp cắt bỏ vú được áp dụng cho CPM cũng tương tự như phương pháp cắt bỏ vú dùng để điều trị ung thư vú ban đầu. (Xem thêm ‘Cắt bỏ vú có hoặc không có tái tạo’ ở dưới và “Cắt bỏ vú”.)