TÓM TẮT
- Cơ chế bệnh sinh – Cơ chế bệnh sinh của trầm cảm chủ yếu bao gồm ba nhóm yếu tố nguy cơ chính: các yếu tố nội hóa (cảm xúc), yếu tố ngoại hóa (hành vi) và các yếu tố nghịch cảnh. (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
- Di truyền học – Trầm cảm đơn cực có khả năng là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và ảnh hưởng từ môi trường đặc thù của mỗi cá nhân. (Xem “Di truyền học trong trầm cảm đơn cực”.)
- Nghịch cảnh thời thơ ấu – Những nghịch cảnh trong giai đoạn đầu đời có thể khiến cá nhân dễ mắc trầm cảm đơn cực thông qua việc làm thay đổi mức độ nhạy cảm với căng thẳng và phản ứng với các kích thích tiêu cực. Mối liên hệ giữa nghịch cảnh thời thơ ấu (ví dụ: bị ngược đãi) và trầm cảm ở người trưởng thành đã được xác lập rõ ràng. (Xem ‘Nghịch cảnh thời thơ ấu’ ở dưới.)
- Các sự kiện gây căng thẳng trong cuộc sống – Các sự kiện gây căng thẳng trong cuộc sống (ví dụ: xâm hại tình dục) làm tăng khả năng khởi phát một giai đoạn trầm cảm chủ yếu. Tuy nhiên, sau khi một sự kiện căng thẳng xảy ra, hiện vẫn chưa rõ thời gian một cá nhân đối mặt với nguy cơ khởi phát trầm cảm là bao lâu. (Xem ‘Các sự kiện gây căng thẳng trong cuộc sống’ ở dưới.)
- Yếu tố xã hội – Các yếu tố xã hội như thiếu sự hỗ trợ từ cộng đồng, sự chỉ trích từ người thân trong gia đình, áp lực công việc, hoặc tình trạng trầm cảm của bạn bè và hàng xóm xung quanh đều có thể dẫn đến khởi phát bệnh. (Xem ‘Yếu tố xã hội’ ở dưới.)
- Yếu tố tâm lý – Các yếu tố tâm lý khiến cá nhân dễ mắc trầm cảm bao gồm những niềm tin không thích nghi, thái độ rối loạn và các trải nghiệm loạn thần. (Xem ‘Yếu tố tâm lý’ ở dưới.)
- Trầm cảm thứ phát – Trầm cảm có thể xảy ra thứ phát sau các bệnh lý nội khoa toàn thân, hoặc do sử dụng các loại thuốc và chất gây nghiện. (Xem ‘Trầm cảm thứ phát’ ở dưới.)
- Sinh học thần kinh – Trầm cảm đơn cực có liên quan đến những thay đổi về cấu trúc và chức năng của não bộ. (Xem “Sinh học thần kinh trong trầm cảm đơn cực”.)