TÓM TẮT
Nguyên nhân gây giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp – Giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp được ghi nhận trong một số hội chứng di truyền với các cơ chế khác nhau (xem ‘Cơ chế giảm nhạy cảm’ ở dưới):
- Khiếm khuyết vận chuyển hormone tuyến giáp qua màng tế bào (THCMTD) và khiếm khuyết chuyển hóa hormone tuyến giáp (THMD) là những khiếm khuyết hiếm gặp, gây giảm nồng độ hormone tuyến giáp nội bào theo đặc thù của từng loại tế bào, tùy thuộc vào sự dự phòng của các protein vận chuyển hormone tuyến giáp xuyên màng và các enzyme deiodinase biểu hiện tại chỗ ở các mô khác nhau.
- Kháng hormone tuyến giáp (RTH) phổ biến hơn, đặc trưng bởi sự suy giảm tác dụng của hormone tuyến giáp, thường do đột biến ở các gen mã hóa thụ thể hormone tuyến giáp. Các thể và đặc điểm lâm sàng của RTH được thảo luận riêng (Xem “Kháng hormone tuyến giáp và các khiếm khuyết khác trong tác dụng của hormone tuyến giáp”).
Các rối loạn này có thể được phân biệt thông qua các bất thường đặc trưng trên xét nghiệm chức năng tuyến giáp trong huyết thanh (bảng 2). Trong mỗi bệnh lý, đột biến ở một gen duy nhất chịu trách nhiệm cho hầu hết hoặc tất cả các trường hợp đã được xác định (bảng 1).
THCMTD – THCMTD đặc trưng bởi sự vận chuyển hormone tuyến giáp vào một số tế bào đích không đầy đủ, dẫn đến giảm nồng độ hormone tuyến giáp nội bào, đồng thời gây dư thừa hormone nội bào ở những tế bào biểu hiện các protein vận chuyển thay thế.
Khiếm khuyết THCMTD duy nhất được xác định cho đến nay là một đột biến liên kết X ở gen MCT8, gen mã hóa protein vận chuyển monocarboxylate 8 (Xem ‘Khiếm khuyết vận chuyển hormone tuyến giáp qua màng tế bào’ ở dưới).
Kết quả xét nghiệm điển hình của thiếu hụt MCT8 là nồng độ triiodothyronine (T3) huyết thanh cao và nồng độ reverse T3 (rT3) thấp; đặc điểm này phân biệt với các nguyên nhân gây giảm nhạy cảm với hormone tuyến giáp khác (bảng 2). (Xem ‘Kết quả xét nghiệm’ ở dưới).
Các dấu hiệu sớm của khiếm khuyết MCT8 là giảm trương lực cơ và nồng độ T3 huyết thanh cao ở trẻ sơ sinh nam. Bệnh nhân có các biểu hiện của thiếu hụt hormone tuyến giáp, bao gồm bất thường phát triển thần kinh nghiêm trọng, cũng như các dấu hiệu dư thừa hormone tuyến giáp, biểu hiện bằng việc không tăng cân dù dinh dưỡng đầy đủ. Nữ giới mang gen đột biến có nồng độ hormone tuyến giáp ở mức trung gian và không có triệu chứng. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới).
Các lựa chọn điều trị cho bệnh nhân đột biến MCT8 chỉ giới hạn ở các biện pháp hỗ trợ; điều trị tình trạng nồng độ thyroxine (T4) huyết thanh thấp bằng liều sinh lý levothyroxine không mang lại hiệu quả. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới).
THMD – THMD đặc trưng bởi sự suy giảm hoạt tính của các enzyme deiodinase tham gia chuyển hóa các iodothyronine khác nhau bao gồm T4, T3 và rT3. (Xem ‘Khiếm khuyết chuyển hóa hormone tuyến giáp’ ở dưới).
THMD có thể do đột biến biallelic ở gen SBP2 (SECISBP2) hoặc đột biến dị hợp tử ở gen DIO1. Đột biến SBP2 làm cản trở quá trình tổng hợp selenoprotein và đã được xác định ở 20 gia đình. Chỉ có ba gia đình có đột biến DІՕ1 được báo cáo. (Xem ‘Di truyền học’ ở dưới).
Các đặc điểm lâm sàng của THMD bao gồm (xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ và ‘Kết quả xét nghiệm’ ở dưới):
- Khiếm khuyết SBP2 biallelic liên quan đến T4 cao, T3 thấp, rT3 cao, hormone kích thích tuyến giáp (TSH) huyết thanh bình thường hoặc tăng nhẹ (bảng 2), giảm selen huyết thanh, giảm nồng độ và hoạt tính của selenoprotein trong huyết thanh và mô. Kiểu hình lâm sàng phức tạp và phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của khiếm khuyết SBP2. Bệnh nhân có thể chậm phát triển và chậm dậy thì; trong những trường hợp nặng có thể gặp tình trạng chậm phát triển thể chất (failure to thrive), khuyết tật trí tuệ, vô sinh, bệnh cơ, suy giảm thính lực, nhạy cảm với ánh sáng và suy giảm miễn dịch.
- Đột biến DIO1 dị hợp tử liên quan đến tăng tỷ lệ rT3:T3 trong huyết thanh và có thể tăng cholesterol, nhưng không có bất thường lâm sàng đặc trưng.