TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng – Triệu chứng điển hình của rối loạn hoảng sợ là các cơn hoảng sợ tái diễn và không dự báo trước được. Một cơn hoảng sợ là sự gia tăng đột ngột cảm giác sợ hãi hoặc khó chịu dữ dội, đạt đỉnh trong vòng vài phút và đi kèm với bốn hoặc nhiều triệu chứng cơ thể hoặc nỗi sợ hãi. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’ ở dưới.)
Bệnh đồng mắc – Nguyên nhân gây ra các cơn hoảng sợ, các bệnh đồng mắc và chẩn đoán phân biệt của rối loạn hoảng sợ thường chồng lấp lên nhau và trong nhiều trường hợp rất khó phân định. Các bệnh lý nội khoa đồng mắc bao gồm hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, loạn nhịp tim, rối loạn chức năng tiền đình và các rối loạn tiêu hóa như hội chứng ruột kích thích. Các bệnh lý tâm thần đồng mắc bao gồm rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn stress sau sang chấn, cũng như rối loạn sử dụng rượu và các chất gây nghiện khác. (Xem thêm phần ‘Bệnh đồng mắc’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Cơ chế bệnh sinh của rối loạn hoảng sợ hiện chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Các yếu tố di truyền, sự thay đổi trong mạng lưới thần kinh, các yếu tố tâm lý (ví dụ: khí chất, độ nhạy cảm với lo âu) và các yếu tố xã hội (ví dụ: các tác nhân gây stress) được cho là góp phần vào căn nguyên của bệnh. Mô hình stress-diathesis (mô hình tương tác giữa yếu tố dễ tổn thương và stress) cũng được sử dụng để giải thích cơ chế bệnh sinh tiềm ẩn. (Xem thêm phần ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Diễn tiến – Rối loạn hoảng sợ thường là một bệnh lý mạn tính và tái phát. Mặc dù hầu hết người bệnh có sự cải thiện về triệu chứng, nhưng ngay cả với những trường hợp đã thuyên giảm, tình trạng tái phát vẫn thường xuyên xảy ra. (Xem thêm phần ‘Diễn tiến’ ở dưới.)
Các đặc điểm liên quan – Người mắc rối loạn hoảng sợ thường có xu hướng né tránh do chứng sợ khoảng trống (agoraphobia), tăng nguy cơ tự sát, tăng tần suất sử dụng dịch vụ y tế và giảm chất lượng cuộc sống nói chung. (Xem thêm phần ‘Các đặc điểm liên quan’ ở dưới.)
Bệnh nhân có thể sử dụng các chất như rượu hoặc thuốc an thần nhằm kiểm soát triệu chứng. Mặc dù việc sử dụng các chất này có thể mang lại hiệu quả giảm lo âu ngắn hạn, nhưng nó có thể dẫn đến tình trạng lo âu và hoảng sợ bùng phát trở lại (rebound) khi nồng độ thuốc trong máu giảm xuống. (Xem thêm phần ‘Sử dụng chất’ ở dưới.)
Đánh giá – Chúng tôi loại trừ các nguyên nhân y khoa hoặc tâm thần tiềm ẩn gây ra các cơn hoảng sợ ở tất cả những người mới khởi phát cơn hoảng sợ hoặc những người có cơn hoảng sợ không rõ nguyên nhân. (Xem thêm phần ‘Đánh giá’ ở dưới.)
Phỏng vấn và khai thác bệnh sử
- Thiết lập bệnh sử chi tiết về các triệu chứng hoảng sợ, bao gồm đặc điểm, các yếu tố khởi phát hoặc tác nhân kích thích, trình tự thời gian và phản ứng của người bệnh, bao gồm cả sự lo lắng dai dẳng hoặc những thay đổi hành vi không thích nghi liên quan đến cơn hoảng sợ.
- Rà soát tiền sử y khoa và tâm thần hiện tại cũng như trước đây, đặc biệt lưu ý đến các rối loạn có thể biểu hiện bằng các cơn hoảng sợ hoặc lo âu trầm trọng.
- Xem xét tiền sử sang chấn, các sang chấn gần đây hoặc các tác nhân gây stress gần đây. (Xem thêm phần ‘Phỏng vấn’ ở dưới.)
Sàng lọc y khoa – Chúng tôi thực hiện khám lâm sàng tổng quát và các xét nghiệm cận lâm sàng phù hợp cho tất cả những người có cơn hoảng sợ chưa rõ nguyên nhân. Trong một số trường hợp, cần thực hiện thêm các thăm dò như điện tâm đồ, điện não đồ hoặc xét nghiệm nước tiểu 24 giờ. (Xem thêm phần ‘Sàng lọc y khoa’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán rối loạn hoảng sợ dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán, bao gồm sự xuất hiện của các cơn hoảng sợ không dự báo trước, theo sau là tình trạng lo lắng về cơn hoảng sợ hoặc hậu quả của nó kéo dài từ một tháng trở lên. Chúng tôi loại trừ các nguyên nhân khác gây ra cơn hoảng sợ hoặc các tình trạng khác có triệu chứng chồng lấp trước khi đưa ra chẩn đoán cuối cùng là rối loạn hoảng sợ. (Xem thêm phần ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)