TÓM TẮT
- Liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT) – Trong số các phương pháp can thiệp tâm lý xã hội đối với rối loạn hoảng sợ, CBT là liệu pháp nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ nhất từ các thử nghiệm lâm sàng. (Xem thêm ‘Liệu pháp nhận thức – hành vi’ ở dưới.)
- Cơ sở lý thuyết – Các lý thuyết nhận thức và hành vi làm nền tảng cho CBT nhìn chung quan niệm rối loạn hoảng sợ là một nỗi sợ hình thành sau này đối với các cảm giác cơ thể, đặc biệt là những cảm giác liên quan đến sự kích thích hệ thần kinh tự chủ, xuất hiện trên những cá thể có sẵn các tiền đề về tâm lý và sinh học. (Xem thêm ‘Cơ sở lý thuyết’ ở dưới.)
- Chỉ định – CBT đạt hiệu quả cao nhất ở những bệnh nhân có động lực điều trị mạnh mẽ và ưa chuộng cách tiếp cận giải quyết vấn đề. Phương pháp này yêu cầu bệnh nhân phải học kỹ năng tự quan sát, đóng vai trò là “nhà khoa học” của chính mình, học các kỹ năng đối phó về nhận thức và hành vi, đồng thời thực hành lặp lại các kỹ năng này trong những tình huống gây lo âu thực tế bên ngoài môi trường trị liệu. (Xem thêm ‘Chỉ định’ ở dưới.)
- Mục tiêu của CBT – Trọng tâm chính là hướng dẫn bệnh nhân một bộ các kỹ năng đối phó về nhận thức và thể chất để kiểm soát lo âu hiệu quả khi thực hiện tiếp xúc lặp lại với các tình huống và cảm giác gây sợ hãi.
- Thời gian điều trị – Hầu hết các nghiên cứu về CBT trong điều trị rối loạn hoảng sợ bao gồm từ 10 đến 20 phiên điều trị hàng tuần, thực hiện theo hình thức một-một hoặc nhóm nhỏ, mỗi phiên kéo dài từ 60 đến 120 phút. Thời gian bệnh nhân tự rèn luyện nhiều hơn thời gian trực tiếp làm việc với trị liệu viên. Các phiên điều trị CBT luôn đi kèm với bài tập về nhà, thường là hàng ngày, để thực hiện giữa các phiên trị liệu. (Xem thêm ‘Thời gian điều trị’ ở dưới.)
- Các thành phần – Các thành phần của CBT bao gồm: giáo dục sức khỏe, tự theo dõi, huấn luyện lại nhịp thở, thư giãn cơ, tái cấu trúc nhận thức, liệu pháp tiếp xúc và phòng ngừa tái phát. (Xem thêm ‘Các thành phần’ ở dưới.)
- Các rối loạn đồng mắc – Mặc dù tỷ lệ đồng mắc giữa rối loạn hoảng sợ với các rối loạn lo âu hoặc rối loạn khí sắc khác tương đối cao, nhưng hầu hết các tình trạng đồng mắc này không làm giảm hiệu quả của CBT. Tuy nhiên, nếu có đồng mắc rối loạn nhân cách, bệnh nhân có thể cần một phác đồ CBT kéo dài hơn bình thường. Sự tuân thủ thực hiện bài tập về nhà của bệnh nhân có mối tương quan thuận với kết quả điều trị. (Xem thêm ‘Các yếu tố dự báo kết quả’ ở dưới.)
- Các liệu pháp tâm lý khác – CBT từ xa và liệu pháp tiếp xúc trực tuyến đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị rối loạn hoảng sợ. Ngoài ra, có một số bằng chứng hỗ trợ cho liệu pháp tâm động học tập trung vào hoảng sợ và các phương pháp tiếp cận dựa trên sự chấp nhận, nhưng những phương pháp này cần được nghiên cứu thêm trên cỡ mẫu lớn hơn. (Xem thêm ‘Liệu pháp tâm động học’ ở dưới.)