TÓM TẮT
Mô tả và chỉ định – Phẫu thuật bít kín điều trị sa tạng chậu (POP) bằng cách cắt bỏ và/hoặc đóng toàn bộ hoặc một phần ống âm đạo (phẫu thuật bít âm đạo – colpocleisis), giúp đưa âm đạo và các tạng trong chậu hông trở lại vị trí bình thường. Trong khi hầu hết bệnh nhân sa tạng chậu có triệu chứng được điều trị bằng phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật bít kín là một lựa chọn hiệu quả cho những bệnh nhân không mong muốn hoặc không thể chịu đựng được các cuộc phẫu thuật xâm lấn hơn và không có nhu cầu quan hệ tình dục qua đường âm đạo trong tương lai. (Xem mục ‘Đối tượng chỉ định phẫu thuật’ ở dưới.)
Các loại phẫu thuật bít âm đạo – Tất cả các quy trình bít âm đạo đều bao gồm việc loại bỏ biểu mô âm đạo, sau đó khâu áp sát lớp cơ âm đạo trước và sau. Việc áp sát hai thành âm đạo này giúp đảo ngược phần đỉnh bị sa và mô khâu sẽ tạo thành một trụ nâng đỡ vùng chậu.
Phẫu thuật bít âm đạo một phần (phương pháp Le Fort) – Trong quy trình này, các dải biểu mô âm đạo trước và sau được loại bỏ (hình 3). Các phần biểu mô hai bên được giữ lại để tạo đường dẫn lưu cho máu hoặc dịch tiết từ tử cung. Bít âm đạo một phần là lựa chọn ưu tiên cho bệnh nhân còn tử cung và là một phương án hợp lý cho bệnh nhân sa vòm âm đạo. (Xem mục ‘Lựa chọn loại phẫu thuật bít kín’ ở dưới.)
Phẫu thuật bít âm đạo toàn phần (cắt bỏ âm đạo) – Quy trình này thường được áp dụng cho trường hợp sa vòm âm đạo (tức là không còn cổ tử cung và tử cung), bao gồm việc loại bỏ phần lớn biểu mô âm đạo. (Xem mục ‘Lựa chọn loại phẫu thuật bít kín’ ở dưới.)
Vai trò của phẫu thuật cắt tử cung – Đối với những bệnh nhân thực hiện bít âm đạo và có nguy cơ trung bình mắc ung thư cổ tử cung và/hoặc ung thư nội mạc tử cung, chúng tôi khuyến cáo KHÔNG thực hiện cắt tử cung đồng thời (Khuyến cáo 2C). Việc cắt tử cung đồng thời khi bít âm đạo làm kéo dài thời gian phẫu thuật, tăng tỷ lệ bệnh tật và biến chứng. (Xem mục ‘Phẫu thuật cắt tử cung đồng thời’ ở dưới.)
Phẫu thuật điều trị són tiểu khi gắng sức (SUI) đồng thời – Bệnh nhân phẫu thuật bít kín điều trị POP thường kèm theo són tiểu khi gắng sức có triệu chứng hoặc tiềm tàng. Đặt băng treo niệu đạo giữa đồng thời là phương pháp phù hợp cho một số phụ nữ và không làm tăng tỷ lệ bí tiểu sau phẫu thuật. (Xem mục ‘Phẫu thuật điều trị són tiểu khi gắng sức đồng thời’ ở dưới và bài “Sa tạng chậu và són tiểu khi gắng sức ở nữ giới: Điều trị ngoại khoa”, phần ‘POP có triệu chứng nhưng không kèm SUI có triệu chứng’.)
Biến chứng – Các biến chứng sau phẫu thuật bít âm đạo nghiêm trọng thường liên quan đến các bệnh đồng mắc và tình trạng suy kiệt hơn là tuổi tác theo thời gian. Những biến chứng thường gặp nhất liên quan trực tiếp đến quy trình phẫu thuật là truyền máu và viêm bể thận. (Xem mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Hiệu quả – Phẫu thuật bít âm đạo mang lại hiệu quả cao trong điều trị sa tạng; tỷ lệ thành công dao động từ 90% đến 100%, với tỷ lệ thành công dài hạn là 78%. Phẫu thuật bít âm đạo không làm thay đổi hình ảnh cơ thể, và tình trạng hối tiếc sau phẫu thuật là không phổ biến (dao động từ 0% đến 13%). (Xem mục ‘Kết quả điều trị’ ở dưới.)