TÓM TẮT
Di truyền và bệnh sinh – Bệnh giả xơ vàng đàn hồi (Pseudoxanthoma elasticum – PXE; MIM #264800) là một rối loạn di truyền hiếm gặp với độ tuổi khởi phát thay đổi, đặc trưng bởi tình trạng khoáng hóa lạc chỗ và đứt gãy các sợi đàn hồi tại da, mắt, hệ mạch máu và hệ tiêu hóa. PXE gây ra bởi các biến thể gây bệnh ở trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép trong gen ABCC6. Gen này mã hóa cho một protein vận chuyển biểu hiện chủ yếu ở gan, tham gia vào quá trình chuyển hóa ngoại bào adenosine triphosphate (ATP) thành adenosine monophosphate (AMP) và pyrophosphate vô cơ (PPi) – một yếu tố chống khoáng hóa mạnh mẽ.
Một số trường hợp PXE không điển hình hiếm gặp là do các biến thể gây bệnh trong gen ENPP1 hoặc NT5E. Các biến thể trong những gen này cũng liên quan đến các rối loạn khoáng hóa lạc chỗ tương tự, bao gồm vôi hóa động mạch toàn thân ở trẻ sơ sinh (GACΙ) và vôi hóa động mạch do thiếu hụt CD73 (ACDC). (Xem thêm mục ‘Di truyền’ và ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Biểu hiện tại da – Các dấu hiệu sớm ở da và mắt thường kín đáo, đa số không được phát hiện cho đến thập kỷ thứ hai hoặc thứ ba của cuộc đời. Thương tổn da nguyên phát là các sẩn có màu sẫm hơn tông màu da tự nhiên của bệnh nhân, ban đầu xuất hiện ở hai bên cổ (hình 1A-B), sau đó lan đến nách (hình 2) và các vùng nếp gấp khác, ngực và bụng. Cuối cùng, vùng da bị ảnh hưởng trở nên chùng nhão và dư thừa (hình 3A-B). (Xem thêm mục ‘Da’ ở dưới.)
Biểu hiện tại mắt – Vệt dạng mạch máu (angioid streaks), được đặt tên do sự tương đồng với các mạch máu võng mạc, là dấu hiệu đặc trưng nhất của mắt trong PXE (hình 5). Khi bệnh tiến triển, tân mạch màng mạch (CNV) sẽ xuất hiện. Sự rò rỉ huyết thanh hoặc máu từ các mạch máu này dẫn đến bong võng mạc khu trú (hình 6) và gây biến dạng thị giác. (Xem thêm mục ‘Mắt’ ở dưới.)
Biểu hiện tim mạch – Giảm hoặc mất mạch ngoại vi và khởi phát sớm tình trạng đi khập khiễng cách hồi là những biểu hiện mạch máu ngoại vi phổ biến nhất của PXE. Các biến chứng mạch máu khác bao gồm tăng huyết áp do hẹp động mạch thận, bệnh động mạch vành sớm và bệnh mạch máu não. Tổn thương động mạch mạc treo và các nhánh của nó có thể gây đau thắt ruột và xuất huyết tiêu hóa trên. (Xem thêm mục ‘Hệ tim mạch’ ở dưới.)
Đánh giá và chẩn đoán – Việc phát hiện trạng thái đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép đối với hai đột biến gây bệnh trong gen ABCC6 thông qua xét nghiệm di truyền được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán PXE. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, chẩn đoán PXE dựa trên lâm sàng, thông qua việc phát hiện các thương tổn da điển hình với minh chứng mô bệnh học về vôi hóa sợi đàn hồi ở trung bì và các vệt dạng mạch máu (angioid streaks) ở võng mạc. Do khởi phát muộn, cùng tính chất kín đáo và không triệu chứng của các biểu hiện sớm tại da, mắt và mạch máu, nên việc chẩn đoán thường bị trì hoãn. (Xem thêm mục ‘Đánh giá và chẩn đoán’ và ‘Xét nghiệm di truyền’ ở dưới.)
Quản lý và điều trị – Cần một tiếp cận đa chuyên khoa tại các trung tâm chuyên sâu để quản lý các biểu hiện chính về mắt, mạch máu và da của PXE.
Biến chứng tại mắt – Bệnh nhân PXE cần được theo dõi lâu dài bởi chuyên gia về võng mạc. Đối với bệnh nhân có tân mạch màng mạch (CNV) liên quan đến vệt dạng mạch máu, chúng tôi đề xuất tiêm trong dịch kính các thuốc đối kháng yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) (Khuyến cáo 2C). Bevacizumab, ranibizumab hoặc aflibercept đã được ghi nhận là có hiệu quả trong việc ổn định hoặc cải thiện thị lực cho những bệnh nhân này. (Xem thêm mục ‘Biến chứng tại mắt’ ở dưới.)
Giảm thiểu rủi ro tim mạch – Các biện pháp chung để giảm rủi ro tim mạch bao gồm tầm soát bởi chuyên gia tim mạch, tập thể dục thường xuyên, chế độ ăn bảo vệ tim mạch, kiểm soát huyết áp, theo dõi lipid máu và điều trị tăng lipid máu. Cần khuyến cáo mạnh mẽ bệnh nhân bỏ thuốc lá vì thuốc lá có thể làm trầm trọng thêm tình trạng đi khập khiễng cách hồi. (Xem thêm “Tổng quan về dự phòng cấp 1 bệnh tim mạch ở người trưởng thành”.)
Thương tổn da và tình trạng chùng nhão – Phẫu thuật tạo hình có thể giúp cải thiện vẻ ngoài của vùng da chùng nhão, đặc biệt là ở cổ, nách và bẹn. Tuy nhiên, tình trạng chùng nhão có thể tái phát và cần can thiệp phẫu thuật thêm. (Xem thêm mục ‘Thương tổn da và tình trạng chùng nhão’ ở dưới.)
Các liệu pháp đang nghiên cứu để ngăn ngừa khoáng hóa hệ thống – Hiện chưa có phương pháp điều trị nào được chứng minh là hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc phòng ngừa khoáng hóa hệ thống trong PXE. Các liệu pháp thử nghiệm như dùng PPi đường uống, etidronate (một bisphosphonate thế hệ thứ nhất) và bổ sung magie qua chế độ ăn đã được đánh giá trong một vài nghiên cứu lâm sàng với kết quả khác nhau. Tuy nhiên, chưa có phương pháp nào được chấp nhận rộng rãi để sử dụng trong lâm sàng. (Xem thêm mục ‘Các liệu pháp nghiên cứu phòng ngừa khoáng hóa hệ thống’ ở dưới.)
Thai kỳ – Hầu hết các trường hợp mang thai ở người mắc PXE đều diễn ra không có biến chứng và không có căn cứ nào để khuyên bệnh nhân không nên mang thai. (Xem thêm mục ‘Thai kỳ’ ở dưới.)