TÓM TẮT
- Lợi ích của điều trị – Những bệnh nhân đạt được đáp ứng virus bền vững (SVR) sau liệu pháp kháng virus (RNA virus viêm gan C [HCV] âm tính sau 12 tuần) được coi là đã khỏi bệnh, vì các nghiên cứu cho thấy 99% những bệnh nhân này không còn phát hiện thấy virus trong quá trình theo dõi dài hạn. Việc điều trị khỏi HCV trước khi tiến triển thành xơ gan mất bù giúp giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, tử vong liên quan đến gan, nhu cầu ghép gan, tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào gan và các biến chứng liên quan đến gan. Điều trị khỏi HCV cũng ngăn ngừa sự phát triển của các biểu hiện ngoài gan, vốn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng. (Xem ‘Lợi ích của điều trị’ ở dưới.)
- Các lưu ý trước khi điều trị – Chúng tôi khuyến cáo sử dụng liệu pháp thuốc kháng virus trực tiếp (DAA) cho tất cả bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính (Khuyến cáo 1A). Việc đánh giá bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính tập trung vào việc xem xét các yếu tố để lựa chọn thuốc kháng virus, đồng thời xác định các biến chứng và bệnh đồng mắc thường gặp có thể ảnh hưởng đến tiên lượng và các quyết định quản lý không liên quan đến kháng virus. (Xem ‘Đánh giá’ ở dưới.)
- Đánh giá bệnh lý gan – Khám lâm sàng tập trung, các xét nghiệm cận lâm sàng thường quy và các dấu ấn xơ hóa không xâm lấn (như xét nghiệm FibroSure hoặc đo độ đàn hồi mô gan bằng siêu âm) có thể được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh gan. Chúng tôi thường chỉ định sinh thiết gan cho một số bệnh nhân nhiễm HCV chọn lọc, bao gồm những người đã ghép gan hoặc có các nguyên nhân gây bệnh gan khác (như bệnh gan tự miễn hoặc do thuốc). (Xem ‘Đánh giá giai đoạn xơ hóa’ ở dưới và ‘Đánh giá không xâm lấn xơ hóa gan: Tổng quan về các xét nghiệm huyết thanh và chẩn đoán hình ảnh’.)
- Hạn chế xét nghiệm kiểu gen – Với các phác đồ điều trị cho mọi kiểu gen (pangenotypic), việc xác định kiểu gen HCV ít đóng vai trò quyết định hơn trong lựa chọn điều trị. Chúng tôi thực hiện xét nghiệm kiểu gen ở bệnh nhân đã biết có xơ gan hoặc tái phát sau liệu pháp kháng virus trước đó, nhưng không thực hiện thường quy cho bệnh nhân bắt đầu điều trị kháng virus lần đầu, trừ khi có yêu cầu từ đơn vị chi trả bảo hiểm. (Xem ‘Kiểu gen HCV trong các trường hợp chọn lọc’ ở dưới.)
- Các đánh giá khác – Đánh giá chức năng thận, việc sử dụng chất gây nghiện, các biểu hiện ngoài gan, đồng nhiễm HIV hoặc HBV, tình trạng mang thai và khả năng tương tác thuốc giúp xác định các yếu tố khác của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến quyết định điều trị. (Xem ‘Đánh giá các bệnh đồng mắc hoặc tình trạng có thể ảnh hưởng đến điều trị’ ở dưới và ‘Các tình huống đặc biệt’ ở dưới.)
- Nhóm đối tượng ưu tiên điều trị – Trong môi trường hạn chế về nguồn lực, việc ưu tiên điều trị cho những bệnh nhân được dự kiến sẽ mang lại lợi ích ngắn hạn cao nhất là điều hợp lý. Nhóm này bao gồm những bệnh nhân xơ hóa tiến triển hoặc xơ gan, bệnh nhân đang cân nhắc ghép gan, có biểu hiện ngoài gan nghiêm trọng, nguy cơ cao tiến triển xơ hóa, bệnh có triệu chứng và có khả năng lây truyền cao. (Xem ‘Quyết định thời điểm điều trị’ ở dưới.)
- Điều trị bệnh nhân đang sử dụng chất gây nghiện – Việc đang sử dụng chất gây nghiện không phải là chống chỉ định đối với điều trị kháng virus cho những bệnh nhân sẵn lòng tuân thủ điều trị và theo dõi. Sự hỗ trợ liên tục từ các dịch vụ tư vấn tâm thần và điều trị rối loạn sử dụng rượu/ma túy là một biện pháp bổ trợ quan trọng cho liệu pháp kháng virus. (Xem ‘Sử dụng ma túy’ ở dưới và ‘Tiếp tục sử dụng rượu’ ở dưới.)