TÓM TẮT
Thuật ngữ – Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi các hội chứng hưng cảm, trong đó một số trường hợp có thể đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hưng cảm (bảng 1) hoặc hưng cảm nhẹ (bảng 2). Bên cạnh đó, các hội chứng trầm cảm cũng có thể xuất hiện, với một số trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn trầm cảm nặng (bảng 3). Các phân nhóm của rối loạn lưỡng cực bao gồm (xem mục ‘Thuật ngữ’ ở dưới):
- Rối loạn lưỡng cực tuýp I
- Rối loạn lưỡng cực tuýp II
- Rối loạn chu kỳ (Cyclothymic disorder)
- Các rối loạn lưỡng cực xác định khác và rối loạn liên quan
Khác biệt về phát triển – Có sự khác biệt về biểu hiện lâm sàng của rối loạn lưỡng cực giữa trẻ em, thanh thiếu niên và người trưởng thành. So với người trưởng thành, rối loạn lưỡng cực tuýp I ở trẻ em đặc trưng bởi số lượng các giai đoạn hỗn hợp nhiều hơn, tâm trạng thay đổi nhanh và thường đi kèm với các bệnh lý đồng mắc. (Xem mục ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Giai đoạn tiền triệu – Sự khởi phát của rối loạn lưỡng cực ở trẻ em thường có giai đoạn tiền triệu. Tuy nhiên, biểu hiện tiền triệu ở mỗi bệnh nhân là không đồng nhất. Ngoại trừ các triệu chứng hưng cảm dưới ngưỡng, các dấu hiệu và triệu chứng tiền triệu trước khi khởi phát rối loạn lưỡng cực thường không đặc hiệu và có thể gặp trong các rối loạn tâm thần khác vốn thường xuất hiện trước khi khởi phát rối loạn lưỡng cực. (Xem mục ‘Giai đoạn tiền triệu’ ở dưới.)
Hưng cảm – Hưng cảm thường biểu hiện là một nhóm các triệu chứng gia tăng hoạt động cảm xúc, nhận thức và hành vi, bao gồm trạng thái hưng phấn và/hoặc dễ kích động, dễ xao nhãng, tăng năng lượng, giảm nhu cầu ngủ và tăng các hoạt động có mục đích (bảng 1). (Xem mục ‘Hưng cảm’ ở dưới.)
Trầm cảm nặng – Ngược lại với hưng cảm, các giai đoạn trầm cảm nặng biểu hiện bằng sự suy giảm tổng thể về cảm xúc, nhận thức và hoạt động (bảng 3). Các triệu chứng của trầm cảm nặng vượt quá những phản ứng thông thường so với môi trường sống và độ tuổi phát triển của trẻ. (Xem mục ‘Trầm cảm nặng’ ở dưới.)
Đặc điểm loạn thần – Các giai đoạn hưng cảm hoặc trầm cảm nặng có thể kèm theo các đặc điểm loạn thần, bao gồm hoang tưởng, ảo giác và/hoặc rối loạn tư duy. (Xem mục ‘Đặc điểm loạn thần’ ở dưới.)
Nguy cơ tự sát – Ở thanh thiếu niên mắc rối loạn lưỡng cực, tỷ lệ nỗ lực tự sát chiếm khoảng 25 đến 50%, và nguy cơ tự sát thành công ở nhóm này tăng cao. (Xem mục ‘Nguy cơ tự sát’ ở dưới.)
Nhận thức – Rối loạn lưỡng cực ở trẻ em thường bao gồm sự suy giảm chức năng nhận thức, bao gồm nhận thức tổng quát, học tập ngôn ngữ, trí nhớ ngôn ngữ, trí nhớ làm việc, học tập thị giác và trí nhớ thị giác. (Xem mục ‘Suy giảm nhận thức’ ở dưới.)
Chức năng tâm xã hội – Rối loạn lưỡng cực ở thanh thiếu niên liên quan đến sự suy giảm chức năng tâm xã hội và tăng nguy cơ mắc các rối loạn sử dụng chất, các vấn đề pháp lý, cũng như gặp khó khăn trong học tập, gia đình và xã hội. (Xem mục ‘Chức năng tâm xã hội’ ở dưới.)
Diễn tiến bệnh – Diễn tiến bệnh ở thanh thiếu niên mắc rối loạn lưỡng cực thường không đồng nhất, với các giai đoạn hồi phục xen kẽ với các đợt tái phát. Mặc dù hầu hết bệnh nhân hồi phục sau các giai đoạn rối loạn tâm trạng, nhưng các thời kỳ ổn định (euthymia) có thể tương đối ngắn; bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng dạng hội chứng hoặc dưới ngưỡng dao động liên tục, đặc biệt là các triệu chứng trầm cảm và đặc điểm hỗn hợp. Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có thể trải qua những giai đoạn kéo dài không có triệu chứng tâm trạng. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tiên lượng xấu bao gồm tuổi khởi phát sớm, điều kiện kinh tế xã hội thấp và có bệnh lý đồng mắc. (Xem mục ‘Diễn tiến bệnh’ ở dưới.)
Con cái của cha mẹ mắc rối loạn lưỡng cực – Khoảng 15 đến 25% con cái của cha mẹ mắc rối loạn lưỡng cực cũng phát triển bệnh lý này. Tuy nhiên, nếu trẻ có cha mẹ mắc rối loạn lưỡng cực mà bản thân trẻ có biểu hiện bất ổn về tâm trạng, lo âu, trầm cảm, các triệu chứng hưng cảm dưới ngưỡng, đồng thời cha mẹ khởi phát bệnh sớm (≤18 tuổi), thì nguy cơ trẻ phát triển rối loạn lưỡng cực lên đến gần 50%. (Xem mục ‘Con cái của cha mẹ mắc rối loạn lưỡng cực’ ở dưới.)