Hội chứng nguy kịch hô hấp cấp tính (ARDS): Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán và biến chứng ở người lớn

TÓM TẮT

Đặc điểm lâm sàng – Cần nghi ngờ hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS) ở những bệnh nhân có triệu chứng khó thở tiến triển, nhu cầu oxy tăng dần và có hình ảnh thâm nhiễm phế nang trên chẩn đoán hình ảnh ngực trong vòng 6 đến 72 giờ (và có thể lên đến một tuần) sau một yếu tố khởi phát (bảng 1). Các đặc điểm của ARDS có thể bị che lấp bởi biểu hiện của nguyên nhân gây bệnh và thường không đặc hiệu, khiến chẩn đoán dễ bị bỏ sót cho đến khi ARDS tiến triển. (Xem mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)

Đánh giá chẩn đoán ban đầu – Đánh giá ban đầu bao gồm các nội dung sau (sơ đồ 1) (xem mục ‘Đánh giá chẩn đoán ban đầu’ ở dưới):

  • Khai thác bệnh sử và thăm khám chi tiết
  • Các xét nghiệm cận lâm sàng thường quy (tổng phân tích tế bào máu, sinh hóa máu, xét nghiệm chức năng gan, đông máu, khí máu động mạch, nhuộm Gram và nuôi cấy đờm, xét nghiệm kháng nguyên Legionella và Streptococcus trong nước tiểu)
  • X-quang ngực (hình 1hình 2)

Ở hầu hết bệnh nhân, phù phổi cấp do tim được loại trừ thông qua thăm khám lâm sàng và định lượng peptide lợi niệu não (BNP) hoặc N-terminal proBNP, có hoặc không kèm theo siêu âm tim qua thành ngực. Trên đa số trường hợp, chẩn đoán sơ bộ về ARDS và nguyên nhân gây bệnh có thể được xác lập mà không cần thực hiện thêm các thăm dò khác.

Các xét nghiệm bổ sung – Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân cần thực hiện thêm các xét nghiệm khi đánh giá ban đầu chưa đủ để loại trừ phù phổi cấp do tim, hoặc khi gặp các tình trạng khác mô phỏng ARDS (ví dụ: xuất huyết phế nang lan tỏa [DAH (bảng 2)]), khi không xác định được nguyên nhân, hoặc nghi ngờ các nguyên nhân hiếm gặp (ví dụ: viêm phổi do nấm).

Các thăm dò bổ sung có thể bao gồm:

  • Đánh giá lại tình trạng dịch
  • Các xét nghiệm bổ sung (ví dụ: huyết thanh chẩn đoán viêm mạch)
  • Thông tim phải
  • Nội soi phế quản
  • Rửa phế nang phế quản
  • Sinh thiết phổi (hiếm khi cần thiết)

Việc lựa chọn các xét nghiệm này được cá thể hóa, tùy thuộc vào tình trạng nghi ngờ cần xác nhận hoặc loại trừ, tính an toàn của thủ thuật, cũng như giá trị điều trị và tiên lượng mà xét nghiệm mang lại. (Xem mục ‘Chẩn đoán và nguyên nhân chưa rõ ràng’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Nhiều bệnh lý có thể biểu hiện tương tự ARDS hoặc là nguyên nhân gây ra ARDS, trong đó các nguyên nhân cụ thể yêu cầu phương pháp điều trị cá thể hóa. Ví dụ bao gồm: DAH, các tình trạng viêm (viêm phổi tăng bạch cầu ái toan cấp, viêm phổi kẽ cấp, đợt cấp của xơ phổi vô căn, viêm phổi tổ chức hóa tiềm ẩn, viêm phổi tổ chức hóa sợi cấp, viêm mạch phổi) và ung thư di căn. (Xem mục ‘Chẩn đoán và nguyên nhân chưa rõ ràng’ ở dưới và mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Ở hầu hết bệnh nhân, ARDS là một chẩn đoán lâm sàng loại trừ.

Tiêu chuẩn lâm sàng – Bệnh nhân phải hội đủ các điều kiện sau (bảng 4):

  • Xuất hiện triệu chứng hô hấp mới hoặc nặng hơn trong vòng một tuần trước đó, sau một tổn thương lâm sàng đã biết
  • Hình ảnh mờ hai bên trên chẩn đoán hình ảnh ngực
  • Các dấu hiệu trên không được giải thích hoàn toàn bởi phù do tim/quá tải dịch hoặc các nguyên nhân khác
  • Có tình trạng giảm oxy máu ở mức cài đặt máy thở tối thiểu hoặc oxy dòng cao (xác định bằng tỷ lệ áp suất oxy động mạch hoặc độ bão hòa oxy ngoại vi trên máy đo SpO2 so với phân suất oxy hít vào)

Giải phẫu bệnh – Rất ít bệnh nhân được chẩn đoán dựa trên sinh thiết phổi; giai đoạn sớm của ARDS điển hình cho thấy hình ảnh mô bệnh học phù hợp với tổn thương phế nang lan tỏa (hình 1), trong khi các giai đoạn sau (nếu bệnh nhân sống sót) đặc trưng bởi sự tăng sinh sợi và xơ hóa (hình 2bảng 6). (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Diễn tiến lâm sàng – Những bệnh nhân vượt qua giai đoạn cấp tính thường bắt đầu cải thiện tình trạng oxy hóa máu và giảm thâm nhiễm phế nang trong vài ngày tiếp theo, từ đó có thể bắt đầu quá trình cai máy thở (hình 1). Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn phụ thuộc vào máy thở và cho thấy tình trạng thâm nhiễm kẽ kéo dài (giai đoạn tăng sinh sợi), sau đó tiến triển thành xơ phổi (giai đoạn xơ hóa). (Xem mục ‘Diễn tiến lâm sàng’ ở dưới.)

Biến chứng – Bệnh nhân ARDS có thể gặp các biến chứng do thông khí cơ học (ví dụ: chấn thương áp lực phổi, viêm phổi bệnh viện) và các biến chứng do tình trạng bệnh nặng (ví dụ: sảng). (Xem mục ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here