TÓM TẮT
Định nghĩa
- Rối loạn lưỡng cực – Rối loạn lưỡng cực được đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm (bảng 1), hưng cảm nhẹ (bảng 2) và trầm cảm nặng (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Định nghĩa rối loạn lưỡng cực chu kỳ nhanh’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán’.)
- Rối loạn lưỡng cực chu kỳ nhanh – Được chẩn đoán ở những bệnh nhân có từ 4 giai đoạn rối loạn khí sắc trở lên trong vòng 12 tháng qua. Mặc dù các triệu chứng trong mô hình chu kỳ nhanh không khác biệt so với mô hình chu kỳ không nhanh, nhưng các giai đoạn chu kỳ nhanh thường có thời gian kéo dài ngắn hơn. Các giai đoạn riêng biệt được phân tách với nhau bằng sự chuyển đổi từ cực này sang cực kia (ví dụ: từ trầm cảm nặng sang hưng cảm), hoặc bằng sự thuyên giảm hoàn toàn hoặc một phần trong ít nhất hai tháng. (Xem thêm mục ‘Định nghĩa rối loạn lưỡng cực chu kỳ nhanh’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực chu kỳ nhanh: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Tiêu chuẩn chẩn đoán’.)
- Nguyên tắc điều trị chung – Trong khi hưng cảm chu kỳ nhanh luôn cần điều trị bằng thuốc, các giai đoạn hưng cảm nhẹ có thể diễn ra ở mức độ nhẹ đến mức không cần can thiệp dược lý cấp tính. Ngoài ra, cần ngưng sử dụng thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm. Sự thuyên giảm của các giai đoạn rối loạn khí sắc chu kỳ nhanh thường diễn ra theo diễn tiến tự nhiên của bệnh hơn là do kết quả điều trị. Do đó, mục tiêu chính của điều trị là ngăn ngừa các giai đoạn tái phát tiếp theo. (Xem thêm mục ‘Nguyên tắc chung’ ở dưới.)
Hưng cảm nặng
- Điều trị ban đầu – Đối với bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh trong giai đoạn hưng cảm nặng, chúng tôi đề xuất điều trị ban đầu bằng phối hợp thuốc thay vì đơn trị liệu (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Các giai đoạn nặng’ ở dưới và “Hưng cảm và hưng cảm nhẹ ở người trưởng thành: Lựa chọn điều trị dược lý”, phần ‘Điều trị ban đầu’.)
- Bệnh nhân kháng trị – Đối với bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh hưng cảm nặng kháng điều trị, không đáp ứng với một phác đồ phối hợp thuốc, chúng tôi đề xuất thử nghiệm thêm các phối hợp thuốc khác thay vì điều trị bằng sốc điện (ECT) (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Các giai đoạn nặng’ ở dưới và “Hưng cảm và hưng cảm nhẹ ở người trưởng thành: Lựa chọn điều trị dược lý”, phần ‘Bệnh nhân kháng trị’.)
- Bệnh nhân trơ với điều trị – Đối với bệnh nhân hưng cảm nặng trơ với điều trị, không đáp ứng với 4 đến 6 phác đồ phối hợp thuốc, chúng tôi đề xuất sử dụng ECT thay vì tiếp tục thử nghiệm thêm các phối hợp thuốc khác (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Các giai đoạn nặng’ ở dưới và “Hưng cảm và hưng cảm nhẹ ở người trưởng thành: Lựa chọn điều trị dược lý”, phần ‘Bệnh nhân trơ với điều trị’.)
Hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm mức độ nhẹ đến trung bình
- Điều trị ban đầu – Đối với bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh trong giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm mức độ nhẹ đến trung bình, chúng tôi đề xuất điều trị ban đầu bằng đơn trị liệu với risperidone, aripiprazole hoặc olanzapine thay vì các thuốc khác (Khuyến cáo 2B). Chúng tôi ưu tiên risperidone và aripiprazole vì ít gây tăng cân hơn. Các lựa chọn thay thế hợp lý cho risperidone, aripiprazole hoặc olanzapine bao gồm lithium, valproate, quetiapine hoặc carbamazepine (xem mục ‘Thuốc lựa chọn hàng đầu’ ở dưới).
- Bệnh nhân kháng trị – Đối với bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm mức độ nhẹ đến trung bình kháng điều trị, không đáp ứng sau 2 đến 3 lần thử đơn trị liệu tuần tự, chúng tôi đề xuất phối hợp lithium hoặc valproate với risperidone, aripiprazole hoặc olanzapine thay vì tiếp tục thử đơn trị liệu (Khuyến cáo 2C). Tuy nhiên, các lựa chọn thay thế hợp lý bao gồm lithium hoặc valproate phối hợp với haloperidol, quetiapine hoặc ziprasidone. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân kháng trị’ ở dưới.)
- Bệnh nhân trơ với điều trị – Bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh trong giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm mức độ nhẹ đến trung bình có thể không đáp ứng với 4 đến 8 phác đồ phối hợp thuốc. Các lựa chọn điều trị cho những bệnh nhân trơ với điều trị này, theo thứ tự ưu tiên, bao gồm: clozapine (đơn trị liệu hoặc phối hợp tăng cường), sốc điện (ECT), hoặc bổ sung levothyroxine liều cao. (Xem thêm mục ‘Bệnh nhân trơ với điều trị’ ở dưới.)
- Điều trị duy trì – Đối với bệnh nhân lưỡng cực chu kỳ nhanh hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm đáp ứng với điều trị dược lý cấp tính, chúng tôi khuyến cáo nên điều trị duy trì thay vì không điều trị (Khuyến cáo 1A). Thông thường, chúng tôi sử dụng chính phác đồ đã mang lại đáp ứng cho bệnh nhân. (Xem thêm mục ‘Điều trị duy trì’ ở dưới.)