TÓM TẮT
Chẩn đoán – Việc chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt đòi hỏi phải có chẩn đoán mô bệnh học, thường được thực hiện thông qua sinh thiết xuyên trực tràng. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Phân giai đoạn – Hệ thống phân giai đoạn phổ biến nhất đối với ung thư tuyến tiền liệt là hệ thống được phát triển chung bởi Ủy ban Hỗn hợp về Ung thư Hoa Kỳ (AJCC) và Liên đoàn Kiểm soát Ung thư Quốc tế (UICC) (bảng 1 và bảng 2). (Xem ‘Hệ thống phân giai đoạn’ ở dưới.)
Đánh giá phân giai đoạn – Phạm vi đánh giá phân giai đoạn nên dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm kỳ vọng sống, các bệnh đồng mắc, sự hiện diện của các triệu chứng và nhóm nguy cơ (bảng 4) (xem ‘Phân tầng nguy cơ và ý nghĩa đối với đánh giá phân giai đoạn’ ở dưới):
Vai trò của MRI tuyến tiền liệt – Nếu có điều kiện, chúng tôi khuyến cáo chụp MRI tuyến tiền liệt để phân giai đoạn cho các trường hợp nguy cơ thấp nhằm đảm bảo khả năng áp dụng theo dõi chủ động và định hướng sinh thiết bổ sung nếu cần. Chúng tôi cũng khuyến cáo chỉ định này cho nam giới có bệnh lý nguy cơ cao để phân giai đoạn, đặc biệt là đánh giá tuyến tiền liệt/túi tinh và hạch. Đối với nam giới có bệnh lý nguy cơ trung bình, việc chụp MRI tuyến tiền liệt sẽ tùy thuộc vào quyết định của bác sĩ điều trị. (Xem ‘MRI tuyến tiền liệt’ ở dưới.)
Nguy cơ thấp/rất thấp – Đối với nam giới không có triệu chứng với ung thư nguy cơ thấp hoặc rất thấp (bảng 4), đặc biệt nếu kỳ vọng sống dưới 10 năm, không có chỉ định thực hiện thêm các thăm dò phân giai đoạn nào khác ngoài MRI tuyến tiền liệt. (Xem ‘Bệnh lý nguy cơ thấp và rất thấp’ ở dưới.)
Nguy cơ cao/rất cao
- Chúng tôi thực hiện chẩn đoán hình ảnh bổ sung để phát hiện di căn hạch vùng chậu hoặc di căn xa cho tất cả bệnh nhân có bệnh lý nguy cơ cao hoặc rất cao (bảng 4). Do đặc điểm ưu tiên di căn xương, chẩn đoán hình ảnh xương được chỉ định cho tất cả các bệnh nhân này, đặc biệt chú trọng vào các vùng có triệu chứng. (Xem ‘Bệnh lý nguy cơ cao và rất cao’ ở dưới.)
- Với hầu hết bệnh nhân, do sự phổ biến của chụp cắt lớp phát xạ positron với kháng nguyên màng đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSMA PET), cùng với độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn trong việc phát hiện di căn mô mềm và xương, chúng tôi đề xuất sử dụng PSMA PET thay vì các phương pháp chẩn đoán hình ảnh truyền thống (CT, xạ hình xương) hoặc chụp F-18 fluciclovine. Tiếp cận này nhất quán với hướng dẫn cập nhật năm 2022 của Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia (NCCN). Tuy nhiên, tại những nơi không có PSMA PET, xạ hình xương, MRI toàn thân hoặc chụp PET sử dụng các chất phóng xạ đặc hiệu tuyến tiền liệt thế hệ cũ (ví dụ: F-18 fluciclovine) là các lựa chọn thay thế. (Xem ‘Chẩn đoán hình ảnh PET sử dụng chất đánh dấu phóng xạ dựa trên PSMA’ ở dưới.)
- Do độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy tương đối thấp, các bác sĩ điều trị bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt nguy cơ cao được chụp PSMA PET/CT trước khi phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt có thể coi kết quả PET dương tính là “dương tính thật”, trong khi kết quả âm tính không thể dùng để loại trừ bệnh hoặc làm căn cứ quyết định nạo vét hạch. Tuy nhiên, vì chưa rõ tác động lâm sàng thực sự của kết quả PET/CT đối với kết cục dài hạn, theo quan điểm của chúng tôi, một kết quả chụp PET chỉ cho thấy bệnh lý hạch thể tích thấp không nhất thiết phải làm thay đổi hướng xử trí lâm sàng (ví dụ: nếu đã có kế hoạch phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc, phẫu thuật vẫn nên được tiến hành ngay cả khi kết quả PET dương tính). (Xem ‘Liệu kết quả PSMA PET âm tính có thể dùng để tránh nạo vét hạch vùng chậu?’ ở dưới.)
- Vai trò của MRI trục xương trong đánh giá phân giai đoạn ban đầu hiện chưa được xác lập. Chúng tôi không chỉ định MRI trục xương trừ khi có các phát hiện từ những xét nghiệm khác gợi ý khả năng u xâm lấn màng cứng hoặc di căn cột sống cần điều trị xạ trị. (Xem ‘MRI trục xương’ ở dưới.)
- Nếu có điều kiện, MRI toàn thân có thể được sử dụng để phân giai đoạn di căn hạch và di căn xa ở bệnh nhân nguy cơ cao, nhưng PSMA PET vẫn là lựa chọn ưu tiên nếu có sẵn. (Xem ‘MRI toàn thân’ ở dưới.)
Nguy cơ trung bình – Do nguy cơ di căn hạch và di căn xa tương đối thấp, chúng tôi không thực hiện các thăm dò phân giai đoạn bổ sung để đánh giá di căn mô mềm và xương ở bệnh nhân có bệnh lý nguy cơ trung bình, đặc biệt là những trường hợp nguy cơ trung bình thuận lợi, mặc dù thực tế lâm sàng có sự khác biệt và các hướng dẫn từ các nhóm chuyên gia không thống nhất. (Xem ‘Bệnh lý nguy cơ trung bình’ ở dưới.)
Xét nghiệm di truyền dòng mầm và mô u
- Xét nghiệm di truyền dòng mầm phù hợp cho tất cả bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, đặc biệt nếu có tiền sử gia đình mắc ung thư vú, buồng trứng, tụy hoặc các khối u đường tiêu hóa khác, hoặc nếu có hình thái mô bệnh học dạng sàng hoặc ung thư trong ống bất kể tiền sử gia đình.
- Chúng tôi cũng sử dụng phân tích phân tử và dấu ấn sinh học của mô u cho nam giới có bệnh lý nguy cơ thấp và nguy cơ trung bình thuận lợi nếu kết quả này ảnh hưởng đến quyết định lâm sàng (ví dụ: kỳ vọng sống từ 10 năm trở lên và đang cân nhắc theo dõi chủ động). (Xem ‘Xét nghiệm di truyền dòng mầm và xét nghiệm mô u’ ở dưới.)