Viêm da cơ địa (chàm): Cơ chế bệnh sinh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Viêm da cơ địa (AD) ảnh hưởng đến từ 5% đến hơn 20% trẻ em và khoảng 10% người trưởng thành trên toàn thế giới. Phần lớn các trường hợp khởi phát trước 5 tuổi và kéo dài sau thời thơ ấu ở khoảng 50% bệnh nhân. Cứ 4 người trưởng thành mắc AD thì có 1 trường hợp khởi phát bệnh ở tuổi trưởng thành.

Yếu tố nguy cơ – Yếu tố nguy cơ mạnh nhất của AD là tiền sử gia đình có bệnh cơ địa (chàm, hen suyễn hoặc viêm mũi dị ứng). Các đột biến mất chức năng dòng mầm trong gen FLG (mã hóa protein hàng rào bảo vệ da filaggrin) làm tăng nguy cơ mắc AD và các bệnh cơ địa khác lên nhiều lần. Các yếu tố nguy cơ khác có thể bao gồm tiếp xúc với môi trường (ví dụ: ô nhiễm không khí, kháng nguyên môi trường), thay đổi hệ vi sinh vật trên da và rối loạn điều hòa miễn dịch. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học’‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Da khô và ngứa (thường ở mức độ nặng) là những dấu hiệu điển hình của AD ở mọi giai đoạn. AD giai đoạn cấp tính biểu hiện bằng các sẩn đỏ và mụn nước kèm theo tiết dịch và đóng vảy (hình 1D, 3B), trong khi AD giai đoạn bán cấp và mạn tính đặc trưng bởi các sẩn khô, bong vảy hoặc có vết trầy xước, hoặc dày da (lichen hóa) do gãi mạn tính (hình 1B-C, 1H). Ở bệnh nhân có sắc tố da đậm, da khô có thể xuất hiện màu trắng hoặc xám, hồng ban có thể có màu tím hoặc không nhìn thấy rõ, các vùng lichen hóa có thể tăng sắc tố, đồng thời tình trạng tăng hoặc giảm sắc tố sau viêm cũng thường gặp (hình 1A-B, 1I-J). (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Diễn tiến lâm sàng và biến chứng – AD diễn tiến mạn tính, tái phát trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Bệnh nhân thể nhẹ có thể trải qua các đợt bùng phát ngắt quãng và tự thuyên giảm, nhưng bệnh nhân viêm da mức độ trung bình đến nặng hiếm khi khỏi nếu không điều trị.

Bệnh nhân AD dễ nhiễm trùng da do vi khuẩn và virus. Sự khu trú của Staphylococcus aureus trên da xảy ra ở hầu hết bệnh nhân AD, và tình trạng nhiễm trùng thứ phát tại các tổn thương da (ví dụ: rỉ dịch, mụn mủ, đóng vảy màu mật ong) thường đi kèm với các đợt khởi phát cấp của bệnh. (Xem thêm phần ‘Diễn tiến lâm sàng và biến chứng’ ở dưới.)

Chẩn đoán – Chẩn đoán AD dựa trên lâm sàng, căn cứ vào bệnh sử, hình thái và phân bố của các tổn thương da, cùng các dấu hiệu lâm sàng đi kèm (hình 1). Tiêu chuẩn chẩn đoán bao gồm:

  • Ngứa
  • Viêm da chàm (cấp tính, bán cấp, mạn tính) với hình thái điển hình và phân bố theo độ tuổi:
    • Tổn thương vùng mặt, cổ và mặt duỗi ở trẻ nhũ nhi và trẻ em
    • Tổn thương vùng nếp gấp hiện tại hoặc trong quá khứ ở mọi nhóm tuổi
    • Không tổn thương vùng bẹn và nách
  • Tiền sử mạn tính hoặc tái phát

Các tiêu chuẩn bổ sung (không bắt buộc) bao gồm:

  • Khởi phát trước 2 tuổi
  • Tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh cơ địa
  • Da khô trong vòng một năm qua

Sinh thiết da và xét nghiệm cận lâm sàng, bao gồm định lượng IgE, thường không cần thiết đối với những bệnh nhân đã có chẩn đoán lâm sàng rõ ràng là AD. (Xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here