TÓM TẮT
-
Phương pháp tầm soát – Ở bệnh nhân đái tháo đường, chúng tôi khuyến cáo thực hiện tầm soát bệnh võng mạc đái tháo đường (DR) (Khuyến cáo 1B). Việc tầm soát phải được thực hiện bởi các chuyên gia thông qua khám đáy mắt giãn đồng tử hoặc chụp ảnh võng mạc. (Xem thêm mục ‘Phương pháp tầm soát’ ở dưới.)
-
Thời điểm bắt đầu tầm soát – Đối với bệnh nhân đái tháo đường type 1, chúng tôi đề xuất bắt đầu tầm soát từ 3 đến 5 năm sau khi chẩn đoán (Khuyến cáo 2B). Đối với bệnh nhân đái tháo đường type 2, chúng tôi đề xuất bắt đầu tầm soát ngay sau khi chẩn đoán (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Thời điểm bắt đầu và tần suất tầm soát’ ở dưới.)
-
Tần suất thăm khám – Tần suất theo dõi cần được cá thể hóa cho từng bệnh nhân:
-
Đối với phụ nữ không mang thai – Ở những bệnh nhân phát hiện có bệnh võng mạc trong lần tầm soát đầu tiên, chúng tôi đề xuất tái khám hàng năm (Khuyến cáo 2C). Cần theo dõi thường xuyên hơn nếu bệnh võng mạc tiến triển. Những bệnh nhân có phù hoàng điểm (ME), bệnh võng mạc đái tháo đường không tăng sinh nặng (severe NPDR) hoặc bệnh võng mạc đái tháo đường tăng sinh (PDR) cần được theo dõi sát bởi bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm trong quản lý DR. Nếu lần khám đầu tiên không ghi nhận bệnh võng mạc, có thể giảm tần suất thăm khám (2 năm một lần). (Xem thêm mục ‘Thời điểm bắt đầu và tần suất tầm soát’ ở dưới và “Bệnh võng mạc đái tháo đường: Dự phòng và điều trị”.)
-
Khi lập kế hoạch mang thai – Phụ nữ đái tháo đường đang có kế hoạch mang thai cần được khám mắt toàn diện và được tư vấn về nguy cơ khởi phát và/hoặc tiến triển của DR trong thai kỳ. (Xem thêm mục “Bệnh võng mạc đái tháo đường: Phân loại và đặc điểm lâm sàng”, phần ‘Tiến triển nặng hơn trong thai kỳ’.)
-
Trong thai kỳ – Ở phụ nữ mang thai có bệnh đái tháo đường từ trước, nếu chưa đến lịch tầm soát định kỳ, chúng tôi đề xuất thực hiện tầm soát trong tam cá nguyệt thứ nhất (Khuyến cáo 2C). Cần đánh giá võng mạc thường xuyên hơn trong suốt thai kỳ và trong một năm sau sinh (bảng 1).
-
Hướng dẫn này không áp dụng cho phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ, vì nhóm đối tượng này không có nguy cơ tăng cao mắc DR. (Xem thêm mục ‘Thai kỳ’ ở dưới.)