TÓM TẮT
Lợi ích và tác hại của sàng lọc
Mặc dù lợi ích trực tiếp của việc sàng lọc đái tháo đường đối với tỉ lệ tử vong chưa được thiết lập rõ ràng, nhưng việc sàng lọc đái tháo đường tuýp 2 giúp cải thiện khả năng phát hiện bệnh. Khi kết hợp với các can thiệp tích cực, sàng lọc có thể trì hoãn thời điểm khởi phát bệnh và tăng cường kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch, chẳng hạn như tăng huyết áp. Việc điều trị ngay tại thời điểm chẩn đoán giúp giảm các biến cố tim mạch, tỉ lệ biến chứng vi mạch, cũng như tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và tử vong do đái tháo đường. (Xem thêm ‘Lợi ích và tác hại của sàng lọc’ ở dưới.)
Các tác hại tiềm tàng của sàng lọc bao gồm chẩn đoán quá mức và tạo ra sự an tâm giả tạo. Tác hại tiềm tàng của điều trị bao gồm nguy cơ điều trị quá mức và các tác dụng không mong muốn của thuốc, đặc biệt ở người cao tuổi suy kiệt. (Xem thêm ‘Tác hại tiềm tàng’ ở dưới.)
Đối tượng sàng lọc
Đối với người trưởng thành từ 35 đến 70 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường tăng cao và/hoặc có các yếu tố nguy cơ tim mạch, chúng tôi đề nghị thực hiện sàng lọc đái tháo đường tuýp 2 (Khuyến cáo 2C). Đối tượng này bao gồm:
- Người thừa cân và béo phì.
- Có tiền sử đái tháo đường thai kỳ.
- Hội chứng buồng trứng đa nang.
- Nhiễm HIV.
- Có người thân trực hệ (bậc một) mắc đái tháo đường tuýp 2.
- Những người mắc tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc đã có bệnh lý tim mạch (bảng 3).
Cách tiếp cận này nhằm cân bằng giữa lợi ích của việc điều trị sớm với tác hại tiềm tàng của chẩn đoán quá mức, trong bối cảnh thiếu bằng chứng rõ ràng về việc sàng lọc đái tháo đường giúp giảm tỉ lệ tử vong. (Xem thêm ‘Đối tượng sàng lọc’ ở dưới.)
Xét nghiệm sàng lọc
Chúng tôi sử dụng Hemoglobin glycosyl hóa (A1C) để sàng lọc đái tháo đường vì xét nghiệm này có sự tương quan tốt nhất với tỉ lệ mắc đái tháo đường và các biến chứng trong tương lai. Các chiến lược thay thế bao gồm sử dụng glucose huyết tương lúc đói (FPG), có hoặc không kết hợp đồng thời với xét nghiệm A1C. (Xem thêm ‘Chiến lược ưu tiên’ và ‘Đặc điểm xét nghiệm’ ở dưới.)
Cả A1C và FPG đều có chi phí tương đối thấp và thuận tiện. Cả hai xét nghiệm đều có độ nhạy trung bình và độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán đái tháo đường, nhưng độ nhạy và độ đặc hiệu thấp hơn đối với tiền đái tháo đường (bảng 5). (Xem thêm ‘Hemoglobin glycosyl hóa (A1C)’ và ‘Glucose huyết tương lúc đói (FPG)’ ở dưới.)
Phiên giải kết quả
- A1C < 5,7% (< 38,8 mmol/mol) hoặc FPG < 100 mg/dL (5,6 mmol/L): Kết quả bình thường. Nếu thực hiện đồng thời cả hai xét nghiệm mà một trong hai kết quả vượt ngưỡng này, cần xét nghiệm lại để làm rõ các kết quả không thống nhất. (Xem thêm ‘Kết quả xét nghiệm không thống nhất’ ở dưới.)
- A1C từ 5,7% đến 6,4% (38,8 đến 46,4 mmol/mol) hoặc FPG từ 100 đến 125 mg/dL (5,6 đến 6,9 mmol/L): Kết quả cho thấy tình trạng tiền đái tháo đường (bảng 2).
- A1C ≥ 6,5% (≥ 47,5 mmol/mol) hoặc FPG ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L): Kết quả phù hợp với chẩn đoán đái tháo đường (bảng 1).
Đối với những cá nhân có kết quả xét nghiệm ban đầu bất thường, chúng tôi thực hiện xét nghiệm lại để xác nhận chẩn đoán. Trong trường hợp kết quả bất ngờ hoặc không thống nhất, chúng tôi tìm hiểu các nguyên nhân tiềm tàng gây ra kết quả bất thường (bảng 6) và thực hiện lại xét nghiệm đã đạt tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường hoặc tiền đái tháo đường. (Xem thêm ‘Phiên giải’ và ‘Kết quả xét nghiệm không thống nhất’ ở dưới.)
Tần suất sàng lọc lại
Chúng tôi thực hiện sàng lọc lại mỗi 3 năm đối với những người có kết quả xét nghiệm bình thường và mỗi 1 năm đối với những người bị tiền đái tháo đường. (Xem thêm ‘Khi nào cần sàng lọc lại’ ở dưới.)
Quản lý bệnh nhân đái tháo đường hoặc tiền đái tháo đường
Những cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (bảng 1) và tiền đái tháo đường (bảng 2) cần được tư vấn tích cực về thay đổi lối sống. Việc quản lý những bệnh nhân này được xem xét trong các chuyên đề riêng biệt. (Xem “Tổng quan về chăm sóc y tế tổng quát cho người trưởng thành không mang thai mắc đái tháo đường”, “Quản lý ban đầu tình trạng tăng đường huyết ở người trưởng thành mắc đái tháo đường tuýp 2” và “Phòng ngừa đái tháo đường tuýp 2”.)