TÓM TẮT
Đánh giá triệu chứng – Việc đánh giá lại triệu chứng định kỳ có giá trị quan trọng trong việc thiết lập mục tiêu điều trị, theo dõi đáp ứng với các can thiệp điều trị triệu chứng cụ thể và tăng cường trao đổi thông tin giữa các thành viên trong nhóm chăm sóc sức khỏe. Hiện có nhiều thang điểm đánh giá khả dụng, bao gồm Thang điểm Đánh giá Triệu chứng Edmonton (ESAS) (bảng 1), ESAS hiệu chỉnh (bảng 2) và ESAS-FS (bảng 3). (Xem mục ‘Đánh giá triệu chứng’ ở dưới.)
Mệt mỏi – Mệt mỏi là triệu chứng phổ biến và đa yếu tố. Quản lý mệt mỏi bao gồm điều trị các nguyên nhân có thể hồi phục nếu xác định được (bảng 6). Hiện có rất ít dữ liệu để chứng minh một phương pháp điều trị nội khoa nào ưu việt hơn các phương pháp khác trong kiểm soát mệt mỏi. (Xem mục ‘Mệt mỏi’ ở dưới.)
Buồn nôn và nôn
Ở bệnh nhân ung thư, các nguyên nhân có thể gặp bao gồm liệt dạ dày, tắc ruột do ung thư hoặc tác dụng phụ của các liệu pháp điều trị. Nếu không xác định được nguyên nhân có thể hồi phục và đã loại trừ tắc ruột, điều trị triệu chứng bằng các thuốc tăng cường vận động đường tiêu hóa như metoclopramide thường mang lại hiệu quả. Haloperidol và olanzapine cũng có thể được cân nhắc sử dụng. (Xem mục ‘Bệnh nhân ung thư’ ở dưới.)
Việc đánh giá và quản lý buồn nôn, nôn ở bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ mắc các bệnh lý không phải ung thư được thảo luận ở phần khác. (Xem “Đánh giá và quản lý buồn nôn và nôn trong chăm sóc giảm nhẹ”.)
Táo bón – Điều trị táo bón trước hết bắt đầu bằng việc giải quyết các yếu tố nền có khả năng hồi phục (bảng 10). Nếu không xác định hoặc không thể can thiệp được các nguyên nhân hồi phục, việc điều trị triệu chứng, ban đầu bằng senna, là phù hợp. (Xem mục ‘Táo bón’ ở dưới.)
Khô miệng – Vệ sinh răng miệng thường xuyên là bước đầu tiên trong điều trị khô miệng. Súc miệng bằng nước lạnh, ngậm đá viên, nhai kẹo cao su không đường để tăng tiết nước bọt và sử dụng nước bọt nhân tạo có thể giúp bệnh nhân dễ chịu hơn. Đối với bệnh nhân khô miệng do xạ trị, các phương pháp có thể mang lại lợi ích bao gồm châm cứu và dùng pilocarpine đường uống. (Xem mục ‘Khô miệng’ ở dưới.)
Nuốt khó – Khó nuốt là triệu chứng thường gặp, đặc biệt ở bệnh nhân ung thư đầu mặt cổ, ung thư thực quản hoặc các bệnh lý tổn thương chức năng thần kinh như xơ cứng cột bên teo cơ (ALS). Xử trí ban đầu bao gồm điều chỉnh độ đặc của thức ăn và chất lỏng. Cần tìm kiếm và điều trị các nguyên nhân có khả năng hồi phục. (Xem mục ‘Nuốt khó’ ở dưới.)
Giảm lượng ăn uống – Giảm lượng ăn uống thường xảy ra do mất cảm giác ngon miệng, suy nhược toàn thân, buồn nôn, nôn hoặc suy giảm nhận thức. Không có bằng chứng cho thấy dinh dưỡng nhân tạo giúp kéo dài sự sống hoặc cải thiện tình trạng chức năng, do đó không được chỉ định cho hầu hết bệnh nhân. Tuy nhiên, quyết định về việc truyền dịch hoặc nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch cần được cá thể hóa, có sự tham gia của bệnh nhân, gia đình và những người chăm sóc, dựa trên việc đánh giá lợi ích và tác hại tiềm tàng. (Xem mục ‘Vai trò hạn chế của dinh dưỡng và truyền dịch nhân tạo’ ở dưới.)
Mất ngủ – Rối loạn giấc ngủ rất phổ biến và có thể ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, làm tăng cường độ đau hoặc lo âu, và góp phần gây ra sảng. Xử trí ban đầu bao gồm điều trị đau và các triệu chứng khác, hạn chế hoặc điều chỉnh thời điểm dùng các thuốc kích thích. Các can thiệp không dùng thuốc bao gồm cải thiện môi trường ngủ, khuyến khích chu kỳ thức-ngủ lành mạnh và giảm thiểu các yếu tố gây gián đoạn. Các can thiệp dùng thuốc được thảo luận ở phần khác. (Xem mục ‘Mất ngủ’ ở dưới và “Mất ngủ trong chăm sóc giảm nhẹ”, phần ‘Can thiệp dùng thuốc’.)
Trầm cảm – Trầm cảm là vấn đề sức khỏe tâm thần thường gặp nhất trong y học giảm nhẹ, nhưng thường bị bỏ sót trong chẩn đoán và điều trị chưa đầy đủ. Tâm trạng trầm uất, buồn rầu và nỗi đau buồn dự báo trước cái chết là những phản ứng bình thường ở bệnh nhân đối mặt với cái chết. Tuy nhiên, cảm giác tuyệt vọng, bất lực, thấy mình vô giá trị, tội lỗi quá mức, mất hứng thú và có ý tưởng tự sát (ngay cả khi ở mức độ nhẹ hoặc thụ động) là những chỉ dấu rõ rệt nhất của trầm cảm chủ yếu ở những bệnh nhân này, cùng với các dấu hiệu thực thể (rối loạn giấc ngủ, kém tập trung, chán ăn và chậm chạp tâm thần vận động) không do tình trạng bệnh lý nền gây ra (bảng 13). (Xem mục ‘Trầm cảm’ ở dưới.)
Sảng – Sảng có thể do nhiều yếu tố gây ra, đặc biệt là do opioids và các thuốc khác. Xử trí ban đầu cần tập trung vào việc loại bỏ các nguyên nhân gây khởi phát. Quản lý dùng thuốc được thảo luận ở phần khác. (Xem mục ‘Sảng’ ở dưới.)
Tăng tiết đường hô hấp – Trong những giờ cuối đời, tình trạng tăng tiết đường hô hấp có thể gây khó chịu cho bệnh nhân và người thân. Việc đặt tư thế phù hợp, hỗ trợ bệnh nhân hút đờm dãi khi họ còn khả năng và sử dụng thận trọng các thuốc kháng cholinergic (bảng 18) có thể giúp giảm thiểu tình trạng tiết dịch này. (Xem mục ‘Những giờ cuối đời’ ở dưới.)
Những giờ cuối đời – Bệnh nhân và người thân có thể chưa chuẩn bị tâm lý cho những thay đổi thường xảy ra trong những giờ cuối đời. Nhân viên y tế nên giải thích trước về những thay đổi dự kiến trong nhận thức và chức năng vận động để giảm bớt lo âu, ngăn ngừa hoảng loạn và giảm bớt gánh nặng tâm lý cho người ở lại (bảng 17). (Xem mục ‘Những giờ cuối đời’ ở dưới.)
An thần giảm nhẹ – Điều trị hiệu quả sẽ giúp giảm nhẹ phần lớn các triệu chứng ở bệnh nhân giai đoạn cuối. An thần giảm nhẹ có thể được chỉ định cho những bệnh nhân trong giai đoạn cuối của cuộc đời có các triệu chứng kháng trị mà không thể kiểm soát được bằng các biện pháp can thiệp khác của nhóm chăm sóc giảm nhẹ đa chuyên khoa. (Xem mục ‘An thần giảm nhẹ’ ở dưới.)