Đánh giá bệnh nhân người lớn khi di chuyển bằng đường hàng không

TÓM TẮT

Di chuyển đối với bệnh nhân đang dùng thuốc – Bệnh nhân chuẩn bị di chuyển bằng đường hàng không cần được tư vấn về việc điều chỉnh thời gian dùng thuốc. Bệnh nhân nên mang theo tất cả các loại thuốc trong bao bì gốc có nhãn mác (không để trong hành lý ký gửi) cùng các thiết bị theo dõi cần thiết. Ngoài ra, bệnh nhân cần mang theo danh sách các thuốc đang dùng, tiền sử bệnh lý, các loại dị ứng và kết quả điện tâm đồ (ECG) gần đây đối với những bệnh nhân tim mạch. (Xem mục ‘Thuốc’ ở dưới.)

Di chuyển đối với bệnh nhân có bệnh lý nền

  • Bệnh tim mạch – Hầu hết bệnh nhân có bệnh tim trong giai đoạn bù tốt đều có thể di chuyển mà không gặp khó khăn. Các mẹo thực hành cho bệnh nhân tim phổi khi di chuyển bằng đường hàng không được trình bày trong bảng sau (bảng 1). Việc thảo luận chi tiết về di chuyển hàng không cho bệnh nhân tim mạch được trình bày riêng biệt. (Xem mục ‘Tim mạch’ ở dưới và “Tiếp cận bệnh nhân tim mạch muốn di chuyển bằng đường hàng không hoặc lên vùng cao”, phần ‘Di chuyển hàng không’.)
  • Đột quỵ – Bệnh nhân sau đột quỵ cần được theo dõi để đảm bảo tình trạng ổn định trước khi di chuyển. Chúng tôi khuyến cáo thời gian theo dõi tối thiểu là hai tuần; đối với những bệnh nhân ổn định, việc di chuyển sớm hơn có thể được chấp nhận tùy theo quyết định của bác sĩ chuyên khoa thần kinh. (Xem mục ‘Thần kinh’ ở dưới.)
  • Bệnh phổi – Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) có ý nghĩa lâm sàng hoặc các bệnh lý phổi/tim phổi khác có thể suy giảm chức năng nghiêm trọng do nồng độ oxy trong không khí giảm ở độ cao lớn trên các chuyến bay thương mại; do đó, cần được đánh giá nhu cầu thở oxy hỗ trợ (sơ đồ 1). Các chống chỉ định về phổi khác đối với việc bay bao gồm hen suyễn nặng không ổn định, hen suyễn cần nhập viện trong vòng sáu tuần, hoặc tràn khí màng phổi chưa hồi phục hoàn toàn. (Xem mục ‘Phổi’ ở dưới và “Đánh giá nhu cầu thở oxy hỗ trợ khi di chuyển bằng đường hàng không”.)
  • Nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch – Di chuyển đường dài, dù bằng đường hàng không hay đường bộ, đều làm tăng nhẹ nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE). Các yếu tố làm tăng nguy cơ cũng như các biện pháp can thiệp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu nguy cơ VTE được thảo luận chi tiết trong phần riêng (bảng 1). (Xem “Cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở người trưởng thành khi di chuyển”.)
  • Thai kỳ – Hành khách mang thai nên kiểm tra với hãng hàng không về các chi tiết cụ thể liên quan đến hạn chế bay. Vấn đề thai kỳ và di chuyển hàng không được thảo luận riêng. (Xem mục ‘Thai kỳ’ ở dưới.)

Bệnh truyền nhiễm

Bệnh nhân mắc một số bệnh truyền nhiễm hoặc được cho là đã tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm có thể gây nguy hiểm cho người khác (ví dụ: Ebola) bị cấm bay. Lao phổi thể hoạt động là một chống chỉ định đối với di chuyển hàng không cho đến khi có bằng chứng khách quan cho thấy việc điều trị có hiệu quả. (Xem mục ‘Các bệnh truyền nhiễm gây cấm di chuyển’‘Bệnh lao’ ở dưới.)

Việc di chuyển của cá nhân nhiễm SARS-CoV-2 có tiềm năng làm lây nhiễm COVID-19 cho người khác. Các hướng dẫn tiếp tục được cập nhật và cần được tham chiếu trước khi di chuyển. (Xem mục COVID-19 ở dưới.)

Bệnh nhân nhiễm trùng đường hô hấp trên (URI) không thể tránh việc bay có thể cải thiện triệu chứng bằng cách dùng thuốc co mạch đường uống trước chuyến bay và xịt mũi chứa chất co mạch 30 phút trước khi máy bay hạ cánh. Di chuyển hàng không bị chống chỉ định đối với bệnh nhân viêm xoang nặng, vừa phẫu thuật vùng mặt, hoặc chảy máu cam nặng tái phát. (Xem mục ‘Nhiễm trùng đường hô hấp trên và chấn thương áp lực tai’‘Bệnh mũi xoang’ ở dưới.)

Sau phẫu thuật – Bệnh nhân nên hoãn di chuyển hàng không cho đến ít nhất 10 đến 14 ngày sau hầu hết các thủ thuật phẫu thuật mở. Khoảng thời gian trì hoãn này nhằm đảm bảo đủ thời gian để khí trong khoang ngực, khoang bụng hoặc các khoang khác được hấp thu, từ đó giảm nguy cơ chấn thương áp lực. Bệnh nhân sau nội soi đại tràng nên chờ ít nhất 24 giờ trước khi bay. Bệnh nhân phẫu thuật võng mạc trong vòng tám tuần cần tham vấn bác sĩ nhãn khoa trước khi bay. (Xem mục ‘Phẫu thuật và thủ thuật’ ở dưới.)

Thiếu máu nặng – Bệnh nhân có nồng độ hemoglobin dưới 8,5 g/dL thường cần được thở oxy hỗ trợ, trừ khi tình trạng thiếu máu được xác định là bù tốt. (Xem mục ‘Thiếu máu’ ở dưới.)

Thợ lặn SCUBA – Người vừa mới lặn SCUBA có nguy cơ tăng phát triển bệnh giảm áp (DCS) trong khi bay. Việc phòng ngừa và các triệu chứng của DCS được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem “Biến chứng của lặn SCUBA”, phần ‘Bệnh giảm áp’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here