Điều trị u tế bào mầm ác tính của buồng trứng

TÓM TẮT

Tổng quan – U tế bào mầm buồng trứng ác tính (OGCTs) bao gồm u tế bào mầm dạng Seminoma (tương tự như u Seminoma tinh hoàn ở nam giới) và các khối u không phải dạng Seminoma. Các khối u không phải dạng Seminoma bao gồm u quái chưa biệt hóa, ung thư biểu mô phôi, u túi noãn hoàng, ung thư biểu mô màng đệm nguyên phát tại buồng trứng (không do thai nghén), u đa phôi và u tế bào mầm hỗn hợp. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Nguyên tắc điều trị cho tất cả các loại OGCT ác tính nhìn chung là tương tự nhau, bao gồm phẫu thuật chẩn đoán và phân giai đoạn, phẫu thuật giảm khối u nếu bệnh ở giai đoạn tiến triển, và hóa trị bổ trợ trong hầu hết các trường hợp (bảng 6). (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)

Phẫu thuật bảo tồn khả năng sinh sản – OGCTs chủ yếu xảy ra ở trẻ em và phụ nữ trẻ. Đối với những bệnh nhân này, có thể thực hiện phẫu thuật cắt một bên vòi trứng và buồng trứng, bảo tồn tử cung và buồng trứng đối diện nếu các cơ quan này bình thường. Phẫu thuật phân giai đoạn tiêu chuẩn bao gồm cắt tử cung toàn phần ngoài mạc nối và cắt hai bên vòi trứng, buồng trứng thường được chỉ định cho phụ nữ đã hoàn thành sinh con. (Xem ‘Trẻ em và thanh thiếu niên’‘Phẫu thuật bảo tồn khả năng sinh sản’ ở dưới.)

Điều trị bổ trợ – Đối với hầu hết phụ nữ trưởng thành mới chẩn đoán OGCT, chúng tôi khuyến cáo hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 1B). Phác đồ lựa chọn là bleomycin, etoposide và cisplatin (BEP). Những bệnh nhân u tế bào mầm dạng Seminoma giai đoạn IA hoặc IB, hoặc u quái chưa biệt hóa giai đoạn IA độ 1 có tiên lượng rất tốt sau phẫu thuật đơn thuần, do đó, chúng tôi khuyến cáo không cần hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 1B). (Xem ‘Điều trị bổ trợ’ ở dưới.)

Theo dõi sau điều trị – Tất cả bệnh nhân cần được theo dõi thông qua khai thác bệnh sử và khám lâm sàng sau khi hoàn tất điều trị OGCTs. Đồng thời, cần theo dõi định kỳ các dấu ấn ung thư trong huyết thanh. Theo hướng dẫn từ Hiệp hội Ung thư Phụ khoa (SGO), chúng tôi chỉ thực hiện chẩn đoán hình ảnh theo dõi trong hai năm đầu nếu các dấu ấn ung thư ban đầu không tăng. Do nguy cơ tái phát muộn, u tế bào mầm dạng Seminoma cần được theo dõi hàng năm trong ít nhất 10 năm. (Xem ‘Theo dõi sau điều trị’ ở dưới.)

Bệnh tái phát – Đối với những bệnh nhân tái phát mà trước đó chưa từng hóa trị (ví dụ: trong bối cảnh điều trị bổ trợ), chúng tôi khuyến cáo hóa trị dựa trên platinum (Khuyến cáo 1A). Tương tự như điều trị bổ trợ, phác đồ lựa chọn là BEP. (Xem ‘Bệnh tái phát’ ở dưới.)

Tiếp cận điều trị cho bệnh nhân nữ tái phát mặc dù đã hóa trị trước đó được áp dụng tương tự như tiếp cận điều trị u tế bào mầm tinh hoàn tái phát hoặc kháng trị ở nam giới. (Xem “Chẩn đoán và điều trị u tế bào mầm tinh hoàn tái phát và kháng trị”.)

Trẻ em và thanh thiếu niên – Đối với trẻ em và thiếu nữ (xem ‘Trẻ em và thanh thiếu niên’ ở dưới):

  • Chúng tôi đề xuất theo dõi sau phẫu thuật cho những trường hợp OGCT giai đoạn IA và IB theo Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế (FIGO) (Khuyến cáo 2C).
  • Ngoại trừ bệnh nhân u quái chưa biệt hóa (không phân biệt độ), chúng tôi đề xuất hóa trị bổ trợ cho những trường hợp bệnh tiến triển hơn (giai đoạn IC đến IV) (Khuyến cáo 2C). Đối với u quái chưa biệt hóa không phân biệt độ, chúng tôi đề xuất theo dõi thay vì hóa trị bổ trợ (Khuyến cáo 2C).
  • Tương tự như ở phụ nữ trưởng thành, phác đồ lựa chọn là BEP. Tuy nhiên, điều trị dựa trên carboplatin là một phương án hợp lý và ít độc tính hơn cho đối tượng này, đặc biệt khi có chống chỉ định với cisplatin.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here