TÓM TẮT
Lây truyền VZV trong bệnh viện – Virus Varicella-zoster (VZV) là tác nhân gây ra hai bệnh: thủy đậu (nhiễm trùng nguyên phát) và zona (do tái hoạt động của VZV tiềm ẩn).
Sự lây truyền VZV trong bệnh viện đã được ghi nhận rõ ràng từ cả bệnh nhân thủy đậu và bệnh nhân zona, mặc dù tỷ lệ lây truyền từ bệnh nhân thủy đậu cao hơn nhiều. (Xem ‘Lây truyền virus varicella zoster’ ở dưới.)
VZV lây truyền chủ yếu từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc hít phải các hạt aerosol từ dịch nốt phỏng. Ở bệnh nhân thủy đậu, sự lây truyền cũng có thể xảy ra thông qua tiếp xúc với các dịch tiết đường hô hấp dạng aerosol. (Xem ‘Các nguyên tắc chung’ ở dưới.)
Phòng ngừa thủy đậu trong cơ sở y tế – Nhân viên y tế (NVYT) cần được sàng lọc khả năng miễn dịch với varicella-zoster. Điều này thường được chứng minh bằng hồ sơ tiêm chủng hai liều vaccine thủy đậu hoặc bằng chứng miễn dịch thông qua xét nghiệm. Trong một số trường hợp, hồ sơ bệnh sử từng nhiễm bệnh do nhân viên y tế cung cấp cũng được chấp nhận. Tất cả các NVYT khác được coi là đối tượng nhạy cảm với nhiễm trùng. (Xem ‘Xác định đối tượng nhạy cảm với nhiễm trùng’ ở dưới.)
Tiêm chủng cho NVYT nhạy cảm – Những NVYT nhạy cảm không có bằng chứng miễn dịch cần hoàn thành phác đồ tiêm vaccine thủy đậu hai liều, trừ khi có chống chỉ định tiêm chủng (bảng 1). Không khuyến cáo xét nghiệm huyết thanh sau tiêm chủng. (Xem ‘Tiêm chủng cho NVYT nhạy cảm’ ở dưới.)
Các biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng – Lý tưởng nhất, chỉ những NVYT có miễn dịch mới nên chăm sóc bệnh nhân nhiễm VZV.
Ngoài ra, bệnh nhân thủy đậu hoặc zona lan tỏa, và bệnh nhân suy giảm miễn dịch mắc zona khu trú, cần được áp dụng biện pháp phòng ngừa lây truyền qua đường không khí và tiếp xúc cho đến khi các tổn thương đóng vảy. Biện pháp phòng ngừa đường không khí có thể ngừng sớm hơn ở một số bệnh nhân suy giảm miễn dịch mắc zona khu trú. (Xem ‘Các biện pháp phòng ngừa nhiễm trùng’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân có miễn dịch bình thường mắc zona khu trú, có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn. Mặc dù có báo cáo về các trường hợp khởi phát thủy đậu ở những người không tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân (gợi ý sự lây truyền VZV do virus trong aerosol từ tổn thương da), nhưng những trường hợp này rất hiếm gặp. (Xem ‘Phòng ngừa cách ly cho bệnh nhân zona’ ở dưới.)
Quản lý NVYT phơi nhiễm – NVYT cần được đánh giá bởi bộ phận sức khỏe nghề nghiệp nếu họ không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân theo khuyến cáo khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu hoặc zona.
NVYT có bằng chứng miễn dịch với VZV – NVYT có miễn dịch với VZV không cần hạn chế làm việc nhưng cần được theo dõi các triệu chứng nhiễm trùng (ví dụ: bệnh khởi phát dù đã tiêm phòng – breakthrough disease) từ ngày thứ 8 sau lần phơi nhiễm không bảo vệ đầu tiên đến ngày thứ 21 sau lần phơi nhiễm cuối cùng. (Xem ‘Quản lý NVYT phơi nhiễm có bằng chứng miễn dịch’ ở dưới.)
NVYT nhạy cảm – NVYT nhạy cảm phơi nhiễm với VZV cần được dự phòng sau phơi nhiễm.
- NVYT nên được tiêm vaccine thủy đậu trong vòng 3 đến 5 ngày sau phơi nhiễm nếu không có chống chỉ định tiêm chủng (bảng 1). Với những người chưa từng tiêm vaccine, liều thứ hai nên được tiêm sau liều đầu từ 4 đến 8 tuần.
- NVYT có chống chỉ định tiêm vaccine nên được chỉ định immunoglobulin miễn dịch varicella-zoster (Varizig) nếu họ có nguy cơ cao phát triển thủy đậu biến chứng. Nếu không có Varizig, có thể sử dụng liệu pháp kháng virus (ví dụ: acyclovir) từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14 sau phơi nhiễm. (Xem ‘Dự phòng sau phơi nhiễm cho NVYT không có bằng chứng miễn dịch’ ở dưới.)
- Hầu hết các NVYT nhạy cảm phơi nhiễm với VZV nên được tạm ngừng làm việc từ ngày thứ 8 sau lần phơi nhiễm không bảo vệ đầu tiên đến ngày thứ 21 sau lần phơi nhiễm cuối cùng (hoặc đến ngày thứ 28 nếu sử dụng Varizig). Tuy nhiên, những NVYT trước đó đã tiêm một liều vaccine thủy đậu có thể tiếp tục làm việc nếu họ tiêm liều thứ hai trong vòng 5 ngày sau phơi nhiễm. (Xem ‘Đối tượng cần tạm ngừng làm việc’ ở dưới.)
Quản lý NVYT nhiễm VZV – Việc quản lý NVYT nhiễm VZV tùy thuộc vào loại bệnh họ mắc phải (ví dụ: thủy đậu hay zona), tình trạng miễn dịch và khả năng che phủ các tổn thương da. (Xem ‘Hạn chế làm việc đối với NVYT nhiễm VZV’ ở dưới.)