Rối loạn lưỡng cực ở phụ nữ: Tránh thai và đánh giá, tư vấn trước khi thụ thai

TÓM TẮT

  • Các giai đoạn cảm xúc trong rối loạn lưỡng cực – Rối loạn lưỡng cực đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm (bảng 1), hưng cảm nhẹ (bảng 2) và trầm cảm chủ yếu (bảng 3). (Xem thêm phần ‘Định nghĩa rối loạn lưỡng cực’ ở dưới và “Rối loạn lưỡng cực ở người trưởng thành: Đánh giá và chẩn đoán”, mục ‘Chẩn đoán’.)

  • Biện pháp tránh thai – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có nguyện vọng tránh thai cần được tư vấn đầy đủ, đặc biệt là các biện pháp tránh thai thuận nghịch tác dụng kéo dài. Các thuốc chống động kinh dùng trong điều trị rối loạn lưỡng cực có thể tương tác với thuốc tránh thai nội tiết. Cụ thể, Carbamazepine có thể làm giảm hiệu quả của thuốc tránh thai đường uống; ngược lại, thuốc tránh thai đường uống có chứa estrogen có thể làm giảm hiệu quả của Lamotrigine. (Xem thêm phần ‘Biện pháp tránh thai’ ở dưới.)

  • Đánh giá tiền thụ thai – Việc đánh giá lâm sàng cho bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có ý định mang thai bao gồm: khai thác tiền sử tâm thần và nội khoa, khám tâm thần và khám thực thể, cùng các xét nghiệm cận lâm sàng trọng tâm. Tiền sử tâm thần cần nhấn mạnh vào độ tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI) (công cụ tính 1), tình trạng lâm sàng hiện tại và diễn tiến của bệnh, các thuốc đang sử dụng, thực phẩm chức năng, rối loạn sử dụng chất và chức năng tâm xã hội. (Xem thêm phần ‘Đánh giá tiền thụ thai’ ở dưới.)

  • Khả năng sinh sản – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có thể gặp khó khăn trong việc thụ thai hơn so với người không mắc bệnh, tuy nhiên điều này vẫn chưa được xác lập rõ ràng. Thuốc chống loạn thần và Valproate có thể gây rối loạn rụng trứng. (Xem thêm phần ‘Khả năng sinh sản’ ở dưới.)

  • Điều trị duy trì bằng thuốc – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực trong giai đoạn ổn định cảm xúc (euthymic) thường được điều trị duy trì bằng thuốc trước khi thụ thai và trong suốt thai kỳ. (Xem thêm “Rối loạn lưỡng cực ở phụ nữ: Điều trị duy trì tiền thụ thai và tiền sản”.)

  • Tái phát trong thai kỳ – Có tới 70% bệnh nhân rối loạn lưỡng cực mang thai gặp ít nhất một giai đoạn cảm xúc trong thai kỳ, nhưng hiện chưa rõ liệu việc mang thai có làm thay đổi nguy cơ tái phát hay không. Nguy cơ tái phát dường như cao nhất trong tam cá nguyệt thứ nhất, và bệnh lý thường gặp nhất là trầm cảm chủ yếu. Các yếu tố nguy cơ tái phát bao gồm: thời gian ổn định lâm sàng trước khi thụ thai ngắn, ngưng điều trị bằng thuốc (đặc biệt nếu giảm liều và ngưng thuốc trong vòng dưới 15 ngày), mang thai ngoài ý muốn, có bệnh lý tâm thần đồng mắc, thời gian mắc bệnh kéo dài ≥ 5 năm, và tiền sử tái phát ít nhất một giai đoạn cảm xúc mỗi năm sau khi khởi phát bệnh. (Xem thêm phần ‘Tái phát trong thai kỳ’ ở dưới.)

  • Biến chứng thai kỳ – Các kết cục bất lợi về thai kỳ và sinh sản dường như phổ biến hơn ở phụ nữ mắc rối loạn lưỡng cực so với phụ nữ không mắc bệnh, bất kể tình trạng điều trị. (Xem thêm phần ‘Nguy cơ biến chứng thai kỳ’ ở dưới.)

  • Dị tật bẩm sinh – Tỷ lệ dị tật bẩm sinh cơ bản ở con của bệnh nhân rối loạn lưỡng cực tương đương với dân số chung, dao động từ 2% đến 5%. Tuy nhiên, một số thuốc điều trị rối loạn lưỡng cực có khả năng gây quái thai, bao gồm Valproate, Carbamazepine và ở mức độ thấp hơn là Lithium. (Xem thêm “Khả năng gây quái thai, biến chứng thai kỳ và rủi ro sau sinh của thuốc chống loạn thần, benzodiazepines, lithium và điều trị điều biến thần kinh”.)

  • Nguy cơ di truyền hoặc phát triển bệnh lý tâm thần ở trẻ – Bệnh nhân rối loạn lưỡng cực khi có ý định sinh con thường muốn biết về nguy cơ con cái di truyền bệnh. Các gợi ý về tư vấn di truyền tâm thần tiền sản được thảo luận trong các bảng (bảng 4bảng 5). (Xem thêm phần ‘Rối loạn lưỡng cực’ ở dưới.)

    Ngoài ra, con của cha mẹ mắc rối loạn lưỡng cực có thể phát triển tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc, rối loạn trầm cảm chủ yếu đơn cực, rối loạn sử dụng chất, rối loạn thách thức chống đối, rối loạn hành vi, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và các rối loạn lo âu. (Xem thêm phần ‘Các rối loạn khác’ ở dưới.)

  • Giảm thiểu rủi ro – Kết cục thai kỳ có thể được cải thiện ở những bệnh nhân rối loạn lưỡng cực đạt được sự ổn định lâm sàng trước khi thụ thai và có sử dụng acid folic. (Xem thêm phần ‘Giảm thiểu rủi ro’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here