TÓM TẮT
- Tổng quan – Bộ chỉ số lipid máu bao gồm định lượng cholesterol toàn phần, cholesterol lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và nồng độ triglyceride. Dựa trên các giá trị này, nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) có thể được tính toán. (Xem thêm ‘Đo lường’ ở dưới.)
- Các chỉ số cần nhịn ăn – Cholesterol toàn phần và HDL trong huyết thanh được đo trực tiếp; sự khác biệt về giá trị giữa trạng thái nhịn ăn và không nhịn ăn là rất nhỏ và không có ý nghĩa lâm sàng. Tuy nhiên, nồng độ triglyceride có thể thay đổi sau bữa ăn gần nhất. Vì vậy, chúng tôi thường khuyến cáo nên đo bộ chỉ số lipid trong trạng thái nhịn ăn. (Xem thêm ‘Cholesterol toàn phần và HDL’ và ‘Triglyceride’ ở dưới.)
- Đo lường cholesterol LDL – Chỉ số LDL cholesterol trong bộ lipid máu thường được tính toán từ nồng độ triglyceride, cholesterol toàn phần và HDL cholesterol.
Nên cân nhắc đo trực tiếp nồng độ LDL cholesterol ở những bệnh nhân có nồng độ triglyceride toàn phần >400 mg/dL (4,516 mmol/L). (Xem thêm ‘Cholesterol LDL’ ở dưới.)
- Các xét nghiệm lipid không khuyến cáo thực hiện thường quy – Chúng tôi không khuyến cáo đo thường quy kích thước hoặc số lượng hạt LDL, nồng độ lipoprotein, hoặc sử dụng các “tỷ lệ” (ratios). (Xem thêm ‘Các xét nghiệm lipid khác’ và ‘Tỷ lệ’ ở dưới.)
- Nguyên nhân gây kết quả không chính xác – Các nguyên nhân bao gồm sự hiện diện của protein đơn dòng lưu hành (khiến HDL và/hoặc LDL cholesterol thấp giả tạo) và nồng độ triglyceride trên 400 mg/dL (đối với LDL cholesterol tính toán).
Nồng độ LDL và HDL cholesterol được cho là tương đối chính xác khi đo trong vòng 24 đến 48 giờ đầu sau khi nhập viện vì nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (STEMI) và trong vòng 96 giờ sau hội chứng mạch vành cấp không ST chênh lên (NSTEACS). Trong trường hợp này, các giá trị không nhịn ăn vẫn có thể chấp nhận được. (Xem thêm ‘Nguyên nhân gây kết quả không chính xác’ ở dưới.)