TÓM TẮT
Nguyên tắc chung
- Thay đổi chức năng hô hấp liên quan đến thai kỳ – Việc nắm rõ các thay đổi sinh lý hô hấp trong thai kỳ đóng vai trò quan trọng trong quản lý các bệnh lý hô hấp ở phụ nữ mang thai. (Xem ‘Các nguyên tắc nền tảng’ ở dưới.)
- Chẩn đoán và điều trị lâm sàng – Có hai lưu ý chính khi điều trị nội khoa nhiễm trùng hô hấp ở bệnh nhân mang thai: trước hết, cần xác định quy trình đánh giá và điều trị lâm sàng phù hợp cho một bệnh nhân không mang thai có cùng triệu chứng; sau đó, đánh giá xem kế hoạch chẩn đoán và điều trị này có gây thêm rủi ro nào cho thai phụ hoặc thai nhi hay không. Những rủi ro bổ sung này có thể liên quan đến việc tăng mức độ nhạy cảm của người mẹ đối với các bệnh lý nặng hoặc biến chứng trong thai kỳ (ví dụ: cúm) và/hoặc các rủi ro tiềm ẩn đối với thai nhi liên quan đến bệnh lý (ví dụ: nhiễm trùng bẩm sinh), quá trình chẩn đoán (ví dụ: bức xạ từ chẩn đoán hình ảnh) hoặc điều trị (ví dụ: tetracycline có thể gây nhuộm màu răng đang phát triển). (Xem ‘Tiếp cận chẩn đoán và điều trị tổng quát’ ở dưới.)
- Tránh lạm dụng kháng sinh – Hầu hết các nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, bao gồm viêm phế quản cấp không biến chứng, viêm họng, viêm xoang và cảm lạnh thông thường, đều do virus gây ra và không có chỉ định dùng kháng sinh. Việc sử dụng kháng sinh không cần thiết trong những trường hợp này là nguyên nhân quan trọng dẫn đến kháng kháng sinh, các biến cố bất lợi do thuốc và tăng chi phí điều trị không đáng có. (Xem ‘Viêm xoang cấp’ ở dưới.)
- Cảm lạnh thông thường – Không khí ẩm ấm có thể giúp giảm nghẹt mũi, và acetaminophen giúp giảm đau họng, đau đầu và/hoặc hạ sốt. Nếu bệnh nhân yêu cầu điều trị triệu chứng chảy mũi, chúng tôi sử dụng ipratropium bromide và xịt mũi cromolyn 51. (Xem ‘Cảm lạnh thông thường’ ở dưới.)
Viêm xoang
Tiếp cận điều trị tương tự như ở người trưởng thành không mang thai, ngoại trừ việc tránh sử dụng doxycycline và levofloxacin 51. (Xem “Điều trị viêm xoang và viêm mũi xoang cấp không biến chứng ở người trưởng thành”.)
Nhóm fluoroquinolone và tetracycline thường được tránh dùng trong thai kỳ do những tác động tiềm tàng lên sụn, xương và răng của thai nhi. Mặc dù doxycycline có vẻ an toàn hơn các tetracycline thế hệ cũ, nhưng dữ liệu hiện có chất lượng thấp và không đủ để khẳng định là không có rủi ro. Nếu có thuốc thay thế an toàn và hiệu quả hơn, nên ưu tiên sử dụng. (Xem ‘Viêm xoang cấp’ ở dưới.)
Các điều trị hỗ trợ chấp nhận được trong thai kỳ bao gồm xịt mũi nước muối sinh lý hoặc rửa mũi bằng nước muối đệm, acetaminophen và xịt mũi steroid cho những bệnh nhân không thể chịu đựng được tình trạng nghẹt mũi và đau kéo dài trong khi chờ nhiễm trùng khỏi. Steroid xịt mũi chỉ mang lại lợi ích triệu chứng nhỏ trong viêm xoang và có khả năng hiệu quả nhất đối với những người có viêm mũi dị ứng đi kèm. (Xem ‘Viêm xoang cấp’ ở dưới.)
Viêm phế quản – Điều trị viêm phế quản tương tự như cảm lạnh thông thường. Chúng tôi khuyến khích bệnh nhân sử dụng máy tạo ẩm bằng hơi nước. Kháng sinh hiếm khi được chỉ định cho viêm phế quản do virus. (Xem ‘Viêm phế quản cấp’ ở dưới.)
Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (CAP)
Phương pháp điều trị được tóm tắt trong bảng (bảng 2). Lựa chọn kháng sinh kinh nghiệm cho bệnh nhân ngoại trú được trình bày trong sơ đồ (sơ đồ 1). Thai phụ mắc CAP dễ có nguy cơ chuyển dạ sớm và phù phổi. Các tác giả có ngưỡng nhập viện thấp đối với thai phụ mắc CAP để họ có thể được truyền dịch tĩnh mạch, hỗ trợ oxy nếu cần và theo dõi chặt chẽ sức khỏe mẹ-thai cho đến khi cải thiện lâm sàng. (Xem ‘Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng’ ở dưới.)
Tình trạng thiếu oxy và nhiễm toan thường không được thai nhi dung nạp tốt và cần phải được phòng tránh quyết liệt. PaO2 của mẹ được duy trì ≥70 mmHg (hoặc độ bão hòa oxy [SaO2] ≥95%) để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho thai nhi. Tình trạng thiếu máu nặng có thể được điều chỉnh để cải thiện khả năng vận chuyển oxy tổng thể. (Xem ‘Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng’ ở dưới.)