Sa sút trí tuệ thùy trán – thái dương: Dịch tễ học, giải phẫu bệnh và cơ chế bệnh sinh

TÓM TẮT

Thuật ngữ – Sa sút trí tuệ thùy trán-thái dương (FTD) là một rối loạn không đồng nhất về mặt lâm sàng và giải phẫu bệnh, đặc trưng bởi các rối loạn về hành vi, nhân cách và ngôn ngữ, đi kèm với tình trạng thoái hóa khu trú ở thùy trán và/hoặc thùy thái dương.

Thoái hóa thùy trán-thái dương (FTLD) là thuật ngữ dùng để chỉ các chẩn đoán giải phẫu bệnh liên quan đến phổ lâm sàng của FTD. Bên cạnh thể FTD biến thể hành vi (bvFTD), thể mất ngôn ngữ tiến triển nguyên phát biến thể không lưu loát (nfvPPA) và thể mất ngôn ngữ tiến triển nguyên phát biến thể ngữ nghĩa (svPPA), bệnh lý FTLD còn được tìm thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh neuron vận động, thoái hóa vỏ não – hạch nền (CBD) và liệt trên nhân tiến triển (PSP). (Xem ‘Giới thiệu và thuật ngữ’ ở dưới.)

Dịch tễ học – FTD là nguyên nhân phổ biến gây sa sút trí tuệ khởi phát sớm, với tần suất xuất hiện tương đương bệnh Alzheimer (AD) ở những bệnh nhân dưới 65 tuổi. Độ tuổi khởi phát trung bình là 58 tuổi. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Yếu tố di truyền – Khoảng 30% đến 50% bệnh nhân FTD có ít nhất một người thân trong gia đình mắc sa sút trí tuệ. Các đột biến di truyền gây bệnh phổ biến nhất bao gồm các biến thể trong gen MAPT, GRN và sự lặp đoạn của C9orf72. (Xem ‘Yếu tố di truyền’ ở dưới.)

Giải phẫu bệnh – Hình thái đại thể của FTLD bao gồm tình trạng teo đối xứng hoặc không đối xứng ở thùy trán và/hoặc thùy thái dương. Các phát hiện vi thể đặc trưng bao gồm hiện tượng tạo không bào nhỏ và mất neuron, đi kèm với tình trạng sưng neuron, mất myelin và tăng sinh tế bào hình sao. Ngoài ra, các thể vùi protein bất thường được quan sát thấy trong bào tương và/hoặc nhân của các tế bào neuron và/hoặc tế bào thần kinh đệm. (Xem ‘Các đặc điểm giải phẫu bệnh chung’ ở dưới.)

FTLD được phân loại dựa trên đặc tính của các thể vùi giải phẫu bệnh. Đa số các trường hợp FTLD chứa các thể vùi cấu thành từ protein tau tăng phosphoryl hóa hoặc protein TDP-43. Bệnh lý FTLD-FET ít phổ biến hơn, chỉ chiếm khoảng 5% đến 10% các trường hợp FTLD. (Xem ‘Các phân thể giải phẫu bệnh’ ở dưới.)

FTLD-tau bao gồm nhiều phân thể giải phẫu bệnh khác nhau, bao gồm bệnh Pick, bệnh não chấn thương mạn tính, CBD, PSP, bệnh lý ở những người mang đột biến MAPT, bệnh hạt ưa bạc (argyrophilic grain disease) và bệnh tau thần kinh đệm toàn thể (global glial tauopathy). (Xem ‘FTLD-tau’ ở dưới.)

Trong FTLD-TDP, protein TDP-43 bị phosphoryl hóa và ubiquitine hóa bất thường xuất hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Bệnh lý FTLD-TDP cũng được tìm thấy ở những bệnh nhân có đột biến gen GRN, VCP và sự lặp đoạn C9orf72. (Xem ‘FTLD-TDP’ ở dưới.)

Tương quan lâm sàng – giải phẫu bệnh – Việc dự đoán bệnh lý nền trong bvFTD vẫn còn nhiều thách thức; hầu hết các trường hợp cho thấy bệnh lý thần kinh là FTLD-tau hoặc FTLD-TDP.

Các biến thể cụ thể của mất ngôn ngữ tiến triển nguyên phát (PPA) có mối liên hệ chặt chẽ với giải phẫu bệnh. svPPA gần như luôn gắn liền với TDP type C. nfvPPA thường liên quan nhất với bệnh lý tau 4 lần lặp (4R). Biến thể PPA thể giảm từ (logopenic) thường do bệnh Alzheimer gây ra. (Xem ‘Tương quan lâm sàng – giải phẫu bệnh’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here