TÓM TẮT
Chẩn đoán – Protein niệu tăng trong thai kỳ bình thường; protein niệu bất thường được định nghĩa là >300 mg/ngày hoặc tỷ lệ protein/creatinine nước tiểu lớn hơn 0,3 mg/g (30 mg/mmol). (Xem ‘Chẩn đoán/định nghĩa’ ở dưới.)
Sàng lọc – Xét nghiệm que thử nước tiểu (dipstick) có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp trong việc phát hiện protein niệu, do đó không được khuyến cáo để sàng lọc tiền sản giật thường quy trong thai kỳ. Kết quả que thử từ 2+ trở lên có thể được dùng để hỗ trợ chẩn đoán tiền sản giật nếu không có các phương pháp định lượng. Các trường hợp có kết quả que thử dương tính cần được thực hiện thêm xét nghiệm định lượng. (Xem ‘Đo lường’ ở dưới.)
Các phương pháp định lượng – Tỷ lệ protein/creatinine nước tiểu ngẫu nhiên (UPCR; mg protein/mg creatinine) là một phương pháp định lượng protein niệu trong thai kỳ chính xác, thuận tiện và tương đối nhanh chóng. UPCR lớn hơn 0,3 mg/mg (30 mg/mmol) hoặc lượng protein niệu 24 giờ >300 mg sau tuần thứ 20 của thai kỳ là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán tiền sản giật (bảng 1). (Xem ‘Định lượng (chẩn đoán)’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Tuổi thai tại thời điểm xuất hiện protein niệu giúp phân biệt giữa tiền sản giật và bệnh lý thận. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt protein niệu’ ở dưới.)
- Protein niệu được ghi nhận trước tuần thứ 20 của thai kỳ gợi ý bệnh thận nguyên phát hoặc thứ phát.
- Protein niệu khởi phát sau tuần thứ 20 thường do tiền sản giật (bảng 1), đặc biệt khi đi kèm với tăng huyết áp mới khởi phát hoặc tăng nặng, hoặc có các dấu hiệu của tiền sản giật nặng (bảng 3). Nếu không có tăng huyết áp, cần xem xét đến bệnh thận nguyên phát hoặc thứ phát. Tiền sản giật là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra protein niệu mức độ hội chứng thận hư khởi phát mới trong thai kỳ.
Hội chứng thận hư
Trong hội chứng thận hư, phù chi dưới có thể được kiểm soát bằng cách hạn chế natri, sử dụng vớ áp lực phân cấp và kê cao chân. Nếu tình trạng phù vẫn tồn tại dù đã áp dụng các biện pháp trên, có thể thận trọng sử dụng thuốc lợi tiểu quai. (Xem ‘Quản lý hội chứng thận hư trong thai kỳ’ ở dưới.)
Hội chứng thận hư làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT). Những bệnh nhân hội chứng thận hư nặng với nồng độ albumin huyết thanh rất thấp và không có nguy cơ chảy máu cao có thể được hưởng lợi từ việc điều trị chống đông dự phòng. (Xem “Tăng đông trong hội chứng thận hư”, phần ‘Bệnh nhân mang thai’.)
Thuốc gắn acid mật và fibrate có thể sử dụng an toàn trong thai kỳ để điều trị tăng lipid máu nặng do hội chứng thận hư; cần tránh sử dụng statin. (Xem ‘Quản lý hội chứng thận hư trong thai kỳ’ ở dưới.)