TÓM TẮT
-
Tư vấn cá thể hóa và cùng ra quyết định – Các dữ liệu cho thấy chăm sóc kế hoạch hóa gia đình không nên chỉ tập trung duy nhất vào mục tiêu ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn, vì điều này không phù hợp với nguyện vọng của mọi cá nhân và không đủ để tối ưu hóa kết quả sức khỏe. Tư vấn tránh thai đã chuyển dịch từ mô hình định hướng bởi lâm sàng và giáo dục thụ động sang tư vấn cá thể hóa, lấy bệnh nhân làm trung tâm, bao gồm cả quá trình cùng ra quyết định. (Xem thêm ‘Mục tiêu’ và ‘Tư vấn cá thể hóa và cùng ra quyết định’ ở dưới.)
-
Xác định nhu cầu tránh thai – Bước đầu tiên trong tư vấn tránh thai lấy bệnh nhân làm trung tâm là xác định những bệnh nhân phù hợp để tư vấn. Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi thường hỏi bệnh nhân xem họ có mong muốn thảo luận về việc tránh thai hoặc ngăn ngừa mang thai hay không. (Xem thêm ‘Xác định mục tiêu sinh sản lấy bệnh nhân làm trung tâm’ ở dưới.)
-
Đánh giá tình trạng y khoa – Khi xác định bệnh nhân có nhu cầu và phù hợp để tư vấn tránh thai, người cung cấp dịch vụ y tế sẽ tiến hành đánh giá các tình trạng bệnh lý có thể ảnh hưởng đến độ an toàn của các phương pháp cụ thể. (Xem thêm ‘Ghi chép tiền sử y khoa/chống chỉ định tiềm tàng’ ở dưới.)
Hướng dẫn về độ an toàn đối với nhiều tình trạng y khoa và đối tượng bệnh nhân khác nhau hiện có sẵn tại:
-
Tìm hiểu nguyện vọng của bệnh nhân – Tư vấn tránh thai lấy bệnh nhân làm trung tâm thông qua cùng ra quyết định trước hết cần tìm hiểu các ưu tiên của bệnh nhân về đặc điểm của phương pháp (hình 2A-B), sau đó hỗ trợ bệnh nhân xem xét các đặc điểm này liên quan như thế nào đến các phương pháp hiện có, đồng thời để bệnh nhân là người đưa ra quyết định cuối cùng. (Xem thêm ‘Quá trình cùng ra quyết định’ ở dưới.)
-
Các đặc điểm của phương pháp cần cân nhắc – Khi tư vấn, cần xem xét các ưu tiên về đặc điểm của phương pháp tránh thai, bao gồm: hiệu quả của phương pháp, tần suất sử dụng, cách sử dụng, thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, các tác dụng phụ khác, lợi ích ngoài tránh thai, khả năng hồi phục khả năng sinh sản và tính riêng tư. (Xem thêm ‘Tìm hiểu các ưu tiên dựa trên thông tin’ ở dưới.)
-
Giải quyết các thông tin sai lệch – Nhân viên y tế có thể giải đáp các quan niệm sai lầm và thông tin không chính xác về các phương pháp (đặc biệt là thông tin lan truyền qua mạng xã hội) một cách tôn trọng; không bác bỏ những lo ngại này mà cung cấp thông tin dựa trên bằng chứng về tác dụng đã biết của từng phương pháp cụ thể. (Xem thêm ‘Thảo luận về đặc điểm của phương pháp’ ở dưới.)
-
Vai trò của công cụ hỗ trợ hình ảnh – Việc sử dụng các công cụ hỗ trợ hình ảnh (hình 2A và hình 2B) có thể giúp cấu trúc và định hướng quá trình tư vấn. (Xem thêm ‘Hỗ trợ ra quyết định’ ở dưới.)
-
Hướng dẫn sử dụng phương pháp đã chọn – Sau khi chọn phương pháp, việc tư vấn cần cung cấp cho mỗi cá nhân thông tin về cách bắt đầu sử dụng, cách tối ưu hóa hiệu quả, các tác dụng phụ có thể gặp phải, cách tiếp cận chăm sóc theo dõi cần thiết (bao gồm cả việc cấp thuốc/vật tư bổ sung), và cách tiếp cận y tế nếu họ muốn thảo luận về việc ngưng sử dụng hoặc đổi phương pháp. Ngoài ra, cũng cần thảo luận về tránh thai khẩn cấp và phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục. (Xem thêm ‘Chọn một phương pháp’, ‘Bắt đầu sử dụng một phương pháp’ và ‘Đánh giá nguy cơ nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục’ ở dưới.)
-
Các nhóm đối tượng đặc biệt – Tư vấn cho các nhóm đối tượng cụ thể bao gồm thanh thiếu niên, người đa dạng giới, và/hoặc người có rối loạn sử dụng chất, bệnh lý mãn tính, khuyết tật tâm thần hoặc trí tuệ cần ưu tiên quyền tự quyết về sinh sản và cung cấp giáo dục phù hợp để hỗ trợ họ ra quyết định dựa trên đầy đủ thông tin. (Xem thêm ‘Các nhóm đối tượng đặc biệt’ ở dưới.)
-
Ảnh hưởng tiềm tàng của định kiến vô thức – Nhân viên y tế cần nhận thức được khả năng định kiến vô thức về chủng tộc/sắc tộc của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến việc tư vấn. Việc áp dụng mô hình cùng ra quyết định tập trung rõ rệt vào nguyện vọng của bệnh nhân có thể hạn chế tác động của những định kiến này. (Xem thêm ‘Thúc đẩy công bằng y tế’ ở dưới.)