TÓM TẮT
Các loại loạn nhịp tim thường gặp ở trẻ em
Các biến thể lành tính thường gặp ở trẻ không triệu chứng – Những nguyên nhân phổ biến gây nhịp tim không đều ở trẻ khỏe mạnh, không có triệu chứng bao gồm (xem ‘Trẻ không triệu chứng’ ở dưới):
- Loạn nhịp xoang (dạng sóng 1)
- Ngoại tâm thu thất (VPBs) (dạng sóng 2), nhịp đôi (dạng sóng 3), hoặc nhịp ba (dạng sóng 4)
- Ngoại tâm thu nhĩ (PACs) (dạng sóng 5)
Các loạn nhịp nhanh thường đi kèm với triệu chứng – Trẻ có loạn nhịp nhanh kéo dài có thể biểu hiện các triệu chứng như xanh xao, đánh trống ngực, choáng váng hoặc ngất. Các nguyên nhân trong trường hợp này bao gồm (xem ‘Trẻ có triệu chứng’ ở dưới):
- Nhịp nhanh trên thất (SVT) (dạng sóng 10) là loại loạn nhịp nhanh phổ biến nhất ở trẻ em. (Xem “Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán nhịp nhanh trên thất (SVT) ở trẻ em”.)
- Các loạn nhịp nhanh nhĩ tương đối ít gặp ở trẻ em không có bệnh tim bẩm sinh. Nhóm này bao gồm nhịp nhanh nhĩ nguyên phát (ví dụ: nhịp nhanh nhĩ lạc chỗ và nhịp nhanh nhĩ ổ) (dạng sóng 6A-B), nhịp nhanh nhĩ đa ổ hoặc hỗn loạn (dạng sóng 7), cuồng nhĩ (dạng sóng 8) và rung nhĩ (dạng sóng 9). (Xem “Loạn nhịp nhanh nhĩ ở trẻ em”.)
- Nhịp nhanh thất (VT) tương đối ít gặp ở trẻ em không có bệnh tim bẩm sinh. (Xem “Nguyên nhân gây nhịp nhanh phức bộ QRS rộng ở trẻ em”.)
Nhịp không đều kèm tần số tim chậm – Các nguyên nhân trong nhóm này bao gồm:
- Rối loạn chức năng nút xoang (xem “Nhịp chậm ở trẻ em”, phần ‘Rối loạn chức năng nút xoang’ và “Rối loạn chức năng nút xoang: Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”)
- Block tim độ II (dạng sóng 15A-B) (xem “Nhịp chậm ở trẻ em”, phần ‘Block nhĩ thất độ II’ và “Block nhĩ thất độ II: Mobitz type I (Block Wenckebach)” và “Block nhĩ thất độ II: Mobitz type II”)
Đánh giá ban đầu – Quá trình đánh giá ban đầu có thể được thực hiện bởi bác sĩ chăm sóc ban đầu hoặc nhân viên y tế tại khoa cấp cứu, tập trung vào việc xác định loại nhịp và tìm nguyên nhân gây bệnh (sơ đồ 1). Các bước bao gồm (xem ‘Đánh giá ban đầu’ ở dưới):
- Khai thác bệnh sử tập trung
- Khám thực thể
- Điện tâm đồ (ECG)
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ra nhịp tim bất thường sẽ được làm rõ thông qua quá trình đánh giá này.
Chuyển chuyên khoa – Việc chuyển trẻ đến bác sĩ tim mạch nhi khoa là cần thiết trong bất kỳ tình huống nào sau đây (xem ‘Chuyển chuyên khoa tim mạch và đánh giá chuyên sâu’ ở dưới):
- Trẻ có các triệu chứng do nhịp tim bất thường gây ra
- ECG cho thấy những bất thường có ý nghĩa lâm sàng
- Chẩn đoán không chắc chắn sau đánh giá ban đầu
Thông thường, không cần thiết phải chuyển chuyên khoa đối với những trẻ không triệu chứng có ngoại tâm thu nhĩ (PACs) hoặc loạn nhịp xoang được ghi nhận trên ECG.
Các thăm dò bổ sung – Việc chỉ định các xét nghiệm chuyên sâu phụ thuộc vào kết quả đánh giá ban đầu, hoàn cảnh phát hiện loạn nhịp, cũng như tần suất và thời gian kéo dài của triệu chứng nếu có (sơ đồ 1). Các thăm dò có thể bao gồm theo dõi ECG lưu động (Holter), nghiệm pháp gắng sức, siêu âm tim và/hoặc thăm dò điện sinh lý tim (EPS). (Xem ‘Chuyển chuyên khoa tim mạch và đánh giá chuyên sâu’ ở dưới.)