TÓM TẮT
Dịch tễ học – Streptococcus pneumoniae là nguyên nhân gây viêm phổi điển hình do vi khuẩn phổ biến nhất. Tuy nhiên, ở một số nhóm tuổi nhất định, các tác nhân khác lại chiếm ưu thế. (Xem ‘Gánh nặng bệnh tật’ ở dưới và “Viêm phổi ở trẻ em: Dịch tễ học, bệnh sinh và căn nguyên”, phần ‘Tác nhân gây bệnh’.)
Biểu hiện lâm sàng – Các biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất của viêm phổi do phế cầu bao gồm sốt, ho không đờm, thở nhanh và rì rào phế nang giảm tại vùng tổn thương. Các dấu hiệu nghe phổi như rale nổ và tiếng thổi ống khu trú rõ rệt tại phân thùy hoặc thùy phổi tổn thương. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Biến chứng – Các biến chứng xảy ra ở 40% đến 70% trẻ nhập viện vì viêm phổi do phế cầu, bao gồm tràn dịch màng phổi, mủ màng phổi, áp xe phổi, viêm phổi hoại tử, kén khí và tràn khí màng phổi. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Đánh giá và chẩn đoán – Tiền sử, thăm khám lâm sàng và hình ảnh X-quang thường đủ để chẩn đoán viêm phổi. Mặc dù hình ảnh đông đặc thùy phổi gợi ý viêm phổi do vi khuẩn, nhưng đặc điểm X-quang không thể phân biệt một cách tin cậy giữa viêm phổi do vi khuẩn và không do vi khuẩn. Chẩn đoán xác định viêm phổi do phế cầu ở trẻ em thường được thực hiện thông qua nuôi cấy máu hoặc dịch màng phổi. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Điều trị
Đa số bệnh nhân viêm phổi mắc cộng đồng được điều trị theo kinh nghiệm. Nếu nghi ngờ S. pneumoniae, phác đồ điều trị kinh nghiệm thường bao gồm kháng sinh nhóm beta-lactam (ví dụ: penicillin hoặc cephalosporin). (Xem ‘Điều trị kinh nghiệm’ ở dưới và “Viêm phổi ở trẻ em: Điều trị nội trú”, phần ‘Điều trị kinh nghiệm’ và “Viêm phổi mắc cộng đồng ở trẻ em: Điều trị ngoại trú”, phần ‘Tổng kết và khuyến nghị’.)
Khi có kết quả nuôi cấy dương tính với S. pneumoniae, việc lựa chọn kháng sinh nên căn cứ vào kết quả kháng sinh đồ (bảng 3 và bảng 4). (Xem ‘Điều trị đặc hiệu’ ở dưới.)
Chúng tôi đề xuất penicillin hoặc ampicillin là lựa chọn hàng đầu cho đường tiêm, và amoxicillin là lựa chọn hàng đầu cho đường uống đối với viêm phổi do phế cầu với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của penicillin ≤ 2 mcg/mL (Khuyến cáo 2C). Các thuốc thay thế đường tiêm bao gồm cefotaxime, ceftriaxone, ceftaroline, clindamycin, vancomycin hoặc levofloxacin nếu chủng phân lập nhạy cảm. Các lựa chọn thay thế đường uống bao gồm cefpodoxime, cefprozil, cefuroxime hoặc levofloxacin. Liều dùng được cung cấp trong bảng (bảng 4).
Chúng tôi đề xuất ceftriaxone hoặc cefotaxime là lựa chọn ưu tiên cho đường tiêm, và levofloxacin hoặc linezolid đường uống là lựa chọn ưu tiên cho đường uống đối với các chủng phế cầu có MIC của penicillin ≥ 4 mcg/mL (bảng 4) (Khuyến cáo 2C). Ceftaroline, vancomycin, levofloxacin, linezolid và clindamycin (nếu chủng nhạy cảm) là các lựa chọn thay thế cho điều trị đường tiêm.
Thời gian điều trị thường kéo dài từ 5 đến 7 ngày đối với các trường hợp không biến chứng, hoặc cho đến khi bệnh nhân hết sốt trong 5 ngày đối với các trường hợp nặng hơn. (Xem ‘Thời gian điều trị’ ở dưới.)
Tiên lượng – Hầu hết trẻ khỏe mạnh mắc viêm phổi do phế cầu, kể cả trường hợp có biến chứng, đều hồi phục mà không để lại di chứng. Tỷ lệ tử vong do viêm phổi phế cầu ở trẻ em tại Hoa Kỳ ước tính là 4% ở trẻ dưới 2 tuổi và 2% ở trẻ từ 2 đến 17 tuổi. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)