Cấy nước tiểu theo dõi
Không nên thực hiện cấy nước tiểu theo dõi thường quy ở trẻ không có triệu chứng sau đợt nhiễm trùng đường tiết niệu (NTĐTN) đầu tiên 34. Trong một nghiên cứu so sánh kháng sinh đường uống và đường tĩnh mạch trong điều trị NTĐTN ở trẻ em, việc theo dõi thường quy ở trẻ không triệu chứng không giúp tăng khả năng phát hiện các đợt NTĐTN thực sự 2. Hơn nữa, việc điều trị cho những bệnh nhân có niệu khuẩn nhưng không có triệu chứng hiện chưa được chứng minh hiệu quả và có thể gây hại 35. (Xem thêm “Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ nhũ nhi trên một tháng tuổi và trẻ dưới hai tuổi: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, mục ‘Chẩn đoán phân biệt’.)
Men vi sinh (Probiotics)
Chúng tôi không khuyến cáo sử dụng men vi sinh để dự phòng NTĐTN tái phát. Trong một phân tích gộp năm 2015 từ sáu thử nghiệm (352 đối tượng) so sánh men vi sinh với giả dược, men vi sinh không giúp ngăn ngừa NTĐTN tái phát 36. Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất bao gồm tiêu chảy, buồn nôn, nôn, táo bón và các triệu chứng âm đạo, mặc dù hầu hết các nghiên cứu được đưa vào không thu thập thông tin về tác dụng không mong muốn một cách hệ thống.
TÓM TẮT
Người chăm sóc trẻ nhỏ mắc nhiễm trùng đường tiết niệu (NTĐTN) cần được hướng dẫn về nguy cơ tái phát và được khuyên nên đưa trẻ đi khám kịp thời khi có sốt và/hoặc các triệu chứng đường tiết niệu. (Xem thêm mục ‘Theo dõi các triệu chứng tái phát’ ở dưới và “Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em: Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ”, mục ‘Yếu tố nguy cơ gây sẹo thận’.)
Việc đánh giá các đợt sốt và/hoặc triệu chứng đường tiết niệu cần bao gồm việc thu thập bệnh phẩm nước tiểu đúng quy chuẩn (sử dụng thông tiểu bàng quang ở trẻ chưa tự đi vệ sinh được), sau đó gửi xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu hoặc cả hai. (Xem thêm “Nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ nhũ nhi trên một tháng tuổi và trẻ dưới hai tuổi: Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, mục ‘Đánh giá và chẩn đoán cận lâm sàng’.)
Điều trị rối loạn chức năng bàng quang và ruột có thể bao gồm đi tiểu theo giờ, “đi tiểu kép”, sử dụng thuốc nhuận tràng và/hoặc chuyển tuyến đến chuyên khoa (ví dụ: chuyên khoa tiết nhi hoặc tiêu hóa nhi). (Xem thêm mục ‘Xác định và điều trị rối loạn chức năng ruột và bàng quang’ ở dưới.)
Việc cấy nước tiểu theo dõi thường quy ở trẻ không triệu chứng sau đợt NTĐTN đầu tiên là không cần thiết. (Xem thêm mục ‘Cấy nước tiểu theo dõi’ ở dưới.)
Đối với trẻ không có trào ngược bàng quang – niệu quản (VUR) nhưng thường xuyên tái phát NTĐTN (3 đợt sốt trong 6 tháng hoặc 4 đợt tổng cộng trong một năm), chúng tôi khuyến cáo dự phòng bằng kháng sinh (Khuyến cáo 2B). Dự phòng kháng sinh cũng có thể được cân nhắc cho những trẻ có đợt NTĐTN khởi đầu nghiêm trọng hơn hoặc có các yếu tố nguy cơ NTĐTN đi kèm (ví dụ: rối loạn chức năng bàng quang và ruột). Có thể sử dụng Trimethoprim-sulfamethoxazole hoặc nitrofurantoin để dự phòng. (Xem thêm mục ‘Dự phòng bằng kháng sinh’ ở dưới.)
Kháng sinh dự phòng thường được duy trì trong sáu tháng. Có thể ngừng thuốc nếu không có nhiễm trùng xảy ra trong thời gian dự phòng. Có thể xem xét dùng lại kháng sinh dự phòng nếu nhiễm trùng tái phát. (Xem thêm mục ‘Dự phòng bằng kháng sinh’ ở dưới.)
Ở những bệnh nhân không có VUR và thường xuyên tái phát NTĐTN, chúng tôi khuyến cáo sử dụng các sản phẩm từ nam việt quất như nước ép nam việt quất (Khuyến cáo 2B). (Xem thêm mục ‘Nước ép nam việt quất’ ở dưới.)
Chúng tôi không khuyến cáo sử dụng men vi sinh thường quy để dự phòng NTĐTN tái phát ở trẻ em. (Xem thêm mục ‘Men vi sinh’ ở dưới.)
Việc quản lý và theo dõi dài hạn trẻ mắc trào ngược bàng quang – niệu quản được thảo luận trong một phần riêng. (Xem thêm “Quản lý trào ngược bàng quang – niệu quản ở trẻ em”.)