TÓM TẮT
Định nghĩa – Chúng tôi định nghĩa rộng tình trạng quấy khóc (colic) là việc trẻ khóc không rõ nguyên nhân (ví dụ: không phải do đói, tã bẩn, v.v.) kéo dài ≥ 3 giờ/ngày và xảy ra ≥ 3 ngày/tuần ở một trẻ khỏe mạnh dưới 3 tháng tuổi. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Diễn tiến tự nhiên – Các triệu chứng quấy khóc tự khỏi ở 90% trẻ sơ sinh khi đạt 8 đến 9 tuần tuổi. (Xem ‘Diễn tiến tự nhiên’ ở dưới.)
Xử trí – Việc quản lý tình trạng quấy khóc được cá thể hóa dựa trên bệnh sử, thăm khám và đặc điểm gia đình. Mục tiêu là hỗ trợ người chăm sóc đối phó với các triệu chứng của trẻ và ngăn ngừa những hệ lụy lâu dài trong mối quan hệ giữa người chăm sóc và trẻ. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Hỗ trợ người chăm sóc – Hỗ trợ người chăm sóc là nền tảng chính trong quản lý. (Xem ‘Hỗ trợ và giáo dục người chăm sóc’ ở dưới.)
Kỹ thuật cho ăn – Ngoài hỗ trợ người chăm sóc, chúng tôi đề xuất thay đổi kỹ thuật cho ăn và/hoặc thử nghiệm một số kỹ thuật làm dịu trẻ (ví dụ: xoa bụng cho trẻ, tạo “tiếng ồn trắng”, v.v.) như những can thiệp hàng đầu (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Can thiệp hàng đầu’ ở dưới.)
Thay đổi chế độ ăn – Thử nghiệm trong một khoảng thời gian giới hạn với sữa công thức thủy phân cho trẻ uống sữa công thức, hoặc chế độ ăn ít gây dị ứng cho bà mẹ cho con bú có thể hữu ích đối với những trẻ không đáp ứng với các can thiệp hàng đầu. Đối với trẻ uống sữa công thức, chúng tôi khuyến cáo không chuyển từ sữa công thức protein sữa bò sang sữa công thức protein đậu nành hoặc sử dụng sữa công thức bổ sung chất xơ (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Thay đổi chế độ ăn’ ở dưới.)
Các can thiệp khác – Một số can thiệp khác cho chứng quấy khóc ở trẻ sơ sinh đã được đánh giá trong các thử nghiệm ngẫu nhiên nhưng còn hạn chế về phương pháp luận hoặc kết quả không nhất quán (ví dụ: probiotics, simethicone, trà thảo mộc). Do những hạn chế này, chúng tôi thường không sử dụng các can thiệp này. Tuy nhiên, có thể cân nhắc áp dụng cho từng trường hợp cụ thể sau khi đã thảo luận về các rủi ro và lợi ích tiềm tàng. (Xem ‘Các can thiệp chưa được chứng minh’ ở dưới.)
Theo dõi – Tần suất theo dõi đối với trẻ quấy khóc được cá thể hóa. Một số trẻ và người chăm sóc có thể cần theo dõi thường xuyên (ví dụ: hàng tuần hoặc hai tuần một lần) để được trấn an, trong khi những trẻ có người chăm sóc đối phó tốt và có mạng lưới hỗ trợ mạnh mẽ có thể tái khám ít thường xuyên hơn. (Xem ‘Theo dõi’ ở dưới.)
Tiên lượng – Các dữ liệu về hệ lụy của chứng quấy khóc đối với khí chất, hành vi, kiểu ngủ, chức năng gia đình, hen suyễn và cơ địa dị ứng còn mâu thuẫn. Tuy nhiên, chứng quấy khóc không cho thấy mối liên hệ với sự phát triển nhận thức. (Xem ‘Tiên lượng’ ở dưới.)