Thuyên tắc huyết khối ở trẻ em bị ung thư

TÓM TẮT

Dịch tễ học – So với quần thể trẻ em nói chung, trẻ em mắc bệnh ung thư có nguy cơ cao gặp các biến chứng huyết khối, bao gồm huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) cũng như huyết khối động mạch (ví dụ: đột quỵ). Tỷ lệ lưu hành được báo cáo dao động từ 4% đến 8%. Nguy cơ gặp biến chứng huyết khối thay đổi tùy theo loại ung thư, trong đó nguy cơ cao nhất ở trẻ mắc bệnh bạch cầu cấp dòng lympho (ALL), tiếp theo là sarcoma và lymphoma, và thấp nhất ở trẻ có khối u não. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Biểu hiện lâm sàng của VTE và huyết khối động mạch ở trẻ em ung thư tương tự như ở trẻ em không ung thư. Các biểu hiện này thay đổi tùy thuộc vào vị trí, phạm vi của huyết khối, tính chất cấp tính của biến cố và độ tuổi của bệnh nhân. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Nghi ngờ lâm sàng và chẩn đoán – Ở trẻ em ung thư, biểu hiện của các biến cố huyết khối có thể trùng lặp với các vấn đề khác liên quan đến ung thư. Các bác sĩ điều trị bệnh nhân ung thư cần duy trì mức độ nghi ngờ cao đối với huyết khối. Chẩn đoán được xác nhận bằng các chẩn đoán hình ảnh (ví dụ: siêu âm Doppler cho nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch, chụp CT mạch phổi cho nghi ngờ thuyên tắc phổi, chụp cộng hưởng từ tăng cường tương phản cho nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch não hoặc đột quỵ động mạch). Tiếp cận chẩn đoán tương tự như ở trẻ em không ung thư, như đã được thảo luận riêng. (Xem “Huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) ở trẻ em: Yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Chẩn đoán’.)

Quản lý – Quản lý huyết khối liên quan đến ung thư là một thách thức vì trẻ em ung thư đối mặt với cả nguy cơ tiến triển và tái phát huyết khối, cũng như nguy cơ xuất huyết do giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu liên quan đến hóa trị. Tiếp cận của chúng tôi như sau (xem ‘Xử trí’ ở dưới):

Phòng ngừa – Chiến lược tốt nhất để phòng ngừa các biến chứng huyết khối ở trẻ em ung thư là áp dụng các biện pháp phi dược lý (ví dụ: khuyến khích vận động/đi lại), theo dõi lâm sàng các dấu hiệu và triệu chứng của huyết khối, đồng thời đảm bảo chẩn đoán và điều trị kịp thời khi huyết khối xảy ra. Việc sử dụng dự phòng chống huyết khối thường quy không mang lại lợi ích đáng kể và khiến trẻ phải chịu những rủi ro không cần thiết. Chống đông dự phòng có thể được cân nhắc ở một số trẻ em ung thư chỉ khi có thêm các yếu tố nguy cơ quan trọng về mặt lâm sàng, chẳng hạn như tiền sử huyết khối tái phát, huyết khối ưa (thrombophilia) di truyền đã biết, hoặc phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ (ví dụ: đặt CVC kết hợp điều trị asparaginase, béo phì, thuốc tránh thai nội tiết và/hoặc nhập viện phẫu thuật). (Xem ‘Phòng ngừa’ ở dưới và “Huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) ở trẻ em: Điều trị, phòng ngừa và kết cục”, phần ‘Tiếp cận phòng ngừa VTE’.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here