Liệt dây thần kinh sọ số VI (dây thần kinh vận nhãn ngoài)

TÓM TẮT

Nguyên nhân – Liệt dây thần kinh sáu (dây vận nhãn ngoài) có thể do nhiều cơ chế gây tổn thương tại bất kỳ vị trí nào trên đường đi của dây thần kinh, từ nhân dây VI ở cầu não, đi qua khoang dưới nhện, dốc nền, dọc theo đỉnh xương đá, cho đến xoang hang và ổ mắt (bảng 2).

Ở trẻ em, các nguyên nhân phổ biến nhất bao gồm u, chấn thương, tăng áp lực nội sọ (ICP) và các nguyên nhân bẩm sinh. Ở người trưởng thành, nguyên nhân thường gặp là bệnh lý mạch máu, viêm, chấn thương, thâm nhiễm quanh dây thần kinh (ác tính) và u. (Xem phần ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)

Đặc điểm lâm sàng – Bệnh nhân liệt dây thần kinh sáu thường than phiền về tình trạng song thị ngang, triệu chứng này tăng lên khi liếc mắt về phía cơ thẳng ngoài bị liệt. (Xem phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Thăm khám ghi nhận lác trong ở tư thế nhìn thẳng, mức độ nặng hơn khi liếc mắt về phía cơ bị liệt (không đồng vận phía ngoài) và hạn chế vận nhãn ra ngoài cùng bên. Các biểu hiện khác tùy thuộc vào vị trí tổn thương trên đường đi của dây thần kinh (bảng 2). (Xem phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt bao gồm các bệnh lý hạn chế vận động ổ mắt, bệnh lý mắt do tuyến giáp, nhược cơ, rối loạn liếc mắt trên nhân, lác trong ở trẻ em, hội chứng Duane tuýp 1 và co thắt phản xạ gần. (Xem phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Đánh giá – Việc đánh giá bệnh nhân liệt dây thần kinh sáu tùy thuộc vào việc đây là liệt đơn độc hay có kèm theo các bất thường thần kinh khác (bảng 2). (Xem phần ‘Tiền sử và thăm khám’ ở dưới.)

Đánh giá hình ảnh học thần kinh – Chỉ định chẩn đoán hình ảnh thần kinh cho hầu hết các bệnh nhân. Cần thực hiện chẩn đoán hình ảnh khẩn cấp khi có các dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc phù gai thị. Ở người cao tuổi có các yếu tố nguy cơ mạch máu, chẩn đoán hình ảnh có thể không cần thiết hoặc có thể trì hoãn đối với trường hợp liệt dây thần kinh sáu đơn độc; tuy nhiên, cần thực hiện nếu tình trạng liệt không cải thiện sau ba tháng hoặc khi bệnh nhân xuất hiện thêm các dấu hiệu lâm sàng khác. (Xem phần ‘Chẩn đoán hình ảnh thần kinh’ ở dưới.)

Phương pháp chẩn đoán hình ảnh ưu tiên là MRI có và không tiêm thuốc đối quang từ. Việc sử dụng các chuỗi xung đặc biệt và cắt lát mỏng tại vùng giải phẫu đích dựa trên hội chứng lâm sàng của bệnh nhân (bảng 2) có thể giúp tăng độ nhạy của xét nghiệm. (Xem phần ‘Phương pháp ưu tiên’ ở dưới.)

Điều trị và tiên lượng – Hầu hết các trường hợp liệt dây thần kinh sáu đơn độc sẽ hồi phục tự nhiên. Đối với những trường hợp di chứng kéo dài, các phương pháp điều trị có thể bao gồm che mắt, điều trị bằng lăng kính, phẫu thuật lác và/hoặc tiêm botulinum toxin. Mục tiêu điều trị là tối đa hóa chức năng thị giác, bao gồm cả việc điều chỉnh trục nhãn cầu. (Xem phần ‘Điều trị và tiên lượng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here