Truyền dịch qua đường trong xương

TÓM TẮT

Giải phẫu – Đặt kim trong xương (IO) cho phép tiếp cận nhanh hệ mạch thông qua các xoang tủy trong tủy xương của các xương dài (hình 1). Các tĩnh mạch này được khung xương nâng đỡ nên không bị xẹp ở bệnh nhân sốc hoặc giảm thể tích tuần hoàn. (Xem phần ‘Giải phẫu’ ở dưới.)

Chỉ định – Đặt kim IO có thể được sử dụng để dùng thuốc, truyền dịch và thực hiện các nghiên cứu chẩn đoán (xem phần ‘Dùng thuốc và truyền dịch’‘Nghiên cứu chẩn đoán’ ở dưới). Cần bơm rửa kim IO trước và sau khi dùng thuốc nếu không có dịch truyền đang chảy. Chỉ định đặt kim IO trong các trường hợp lâm sàng sau:

  • Trẻ sơ sinh và trẻ em trong tình trạng ngưng tim ngưng thở hoặc sốc nặng mà không có đường truyền tĩnh mạch sẵn có. Trong trường hợp này, đặt kim IO thường được ưu tiên hơn so với đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (CVC) qua da hoặc phẫu thuật bộc lộ tĩnh mạch vì tỷ lệ thành công cao và thiết lập đường truyền nhanh hơn. Đối với trẻ sơ sinh có tĩnh mạch rốn thông, đặt catheter tĩnh mạch rốn cấp cứu là một phương án thay thế. (Xem “Tiếp cận tĩnh mạch cấp cứu và theo kế hoạch ở trẻ em”, mục ‘Đặt catheter tĩnh mạch rốn cấp cứu’.)
  • Người lớn trong tình trạng ngưng tim ngưng thở hoặc sốc nặng mà không thể thiết lập đường truyền tĩnh mạch ngoại vi. Đặt kim IO có thể được thực hiện trong thời gian chờ đặt CVC qua da hoặc phẫu thuật bộc lộ tĩnh mạch.
  • Bệnh nhân trong tình trạng cấp cứu không thể thiết lập đường truyền tĩnh mạch tin cậy một cách nhanh chóng (ví dụ: sốc, nhiễm khuẩn huyết, trạng thái động kinh, bỏng diện rộng, đa chấn thương).
  • Bệnh nhân cần tiếp cận hệ mạch vì lý do y khoa nhưng không thể thực hiện bằng các phương pháp khác.

Chống chỉ định – Không thực hiện đặt kim IO trong các trường hợp sau (xem phần ‘Chống chỉ định’ ở dưới):

  • Chống chỉ định tuyệt đối:
    • Gãy xương
    • Xương đã từng thất bại khi đặt kim IO trước đó
    • Chi bị tổn thương mạch máu
  • Chống chỉ định tương đối:
    • Chi có vết bỏng hoặc nhiễm trùng gần vị trí tiếp cận
    • Bệnh nhân mắc xương thủy tinh (osteogenesis imperfecta), bệnh xương đá (osteopetrosis) hoặc có luồng thông tim bẩm sinh từ phải sang trái

Lựa chọn thiết bị – Đối với bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, đặt kim IO thường được thực hiện bằng thiết bị chạy bằng pin. Đặt kim thủ công và sử dụng thiết bị đóng kim (impact-driven device) là các kỹ thuật thay thế. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công có thể thấp hơn, thời gian thiết lập lâu hơn và cả hai phương pháp này đều có những hạn chế về độ tuổi tùy theo thiết bị. (Xem phần ‘Lựa chọn thiết bị’‘Kỹ thuật’ ở dưới.)

Vị trí đặt kim – Ở bệnh nhân mọi lứa tuổi, nếu không có chống chỉ định, vị trí đầu trên xương chày là lựa chọn ưu tiên hàng đầu. Vị trí tối ưu thay đổi theo độ tuổi:

  • Ở trẻ sơ sinh và trẻ em, vị trí tối ưu là khoảng 1 đến 2 cm (khoảng một bề ngang ngón tay) dưới lồi củ chày và cách mặt trong mâm chày tối đa 1 cm (hình 2).
  • Ở thanh thiếu niên đã trưởng thành về khung xương và người lớn, vị trí tối ưu là 3 cm (khoảng hai bề ngang ngón tay) dưới cực dưới xương bánh chè và cách 2 cm về phía trong.

Các vị trí đặt kim IO thay thế thay đổi tùy theo độ tuổi và mức độ trưởng thành của khung xương (bảng 1). Thông thường, cần sử dụng thiết bị chạy pin hoặc thiết bị đóng kim để đặt IO ở đầu trên xương chày cho bệnh nhân trên 6 tuổi. Nếu không có các thiết bị này, lâm sàng nên thử đặt thủ công tại mắt cá trong hoặc mắt cá ngoài ở bệnh nhân từ 6 tuổi trở lên. (Xem phần ‘Vị trí đặt kim’ ở dưới.)

Giảm đau – Phương pháp giảm đau cho bệnh nhân đặt kim IO như sau:

  • Bệnh nhân không ổn định – Ở những bệnh nhân nặng cần tiếp cận mạch máu ngay lập tức (ví dụ: bệnh nhân ngưng tim hoặc sốc nặng), việc đặt kim IO được thực hiện mà không cần giảm đau. Sau khi đặt kim IO thành công, những bệnh nhân có đáp ứng có thể được dùng giảm đau toàn thân (ví dụ: fentanyl qua đường IO) hoặc giảm đau tại chỗ (ví dụ: truyền lidocaine không chất bảo quản qua kim IO như mô tả ở trên) tùy theo khả năng dung nạp và tình trạng lâm sàng. (Xem phần ‘Giảm đau’ ở dưới.)
  • Bệnh nhân ổn định – Cần gây tê tại chỗ cho những bệnh nhân tỉnh táo, không trong tình trạng cấp cứu, được đặt kim IO do khó thiết lập đường truyền tĩnh mạch ngoại vi. Điều này có thể thực hiện bằng cách gây tê tại chỗ tại vị trí đặt IO và dùng lidocaine không chất bảo quản qua kim IO trước khi truyền thuốc, dịch hoặc chế phẩm máu. Việc sử dụng midazolam để giảm lo âu hoặc an thần nhẹ cũng có thể cần thiết ở một số bệnh nhân. (Xem phần ‘Giảm đau’ ở dưới.)

Kỹ thuật – Kỹ thuật đặt kim thủ công và đặt kim bằng máy khoan chạy pin được trình bày trong video (video 1) và được mô tả cùng với việc sử dụng các thiết bị đóng kim ở phần trên. Các video hướng dẫn cũng có sẵn trong phần tài liệu tham khảo để hỗ trợ học kỹ thuật đặt kim IO bằng tay, bằng máy khoan pin và bằng súng tiêm xương (bone injection gun). (Xem phần ‘Kỹ thuật’‘Tài liệu bổ sung’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here