Ngực lõm: Điều trị

TÓM TẮT

Đánh giá lâm sàng – Đa số bệnh nhân lồng ngực lõm (PE) mức độ nhẹ không cần can thiệp phẫu thuật. Những bệnh nhân này cần được tái khám định kỳ để theo dõi diễn tiến của dị tật, đặc biệt là trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh. Vật lý trị liệu có thể được chỉ định, tuy nhiên lợi ích của phương pháp này hiện chưa được xác lập rõ ràng. Đối với những bệnh nhân có lồng ngực lõm mức độ trung bình hoặc nặng qua thăm khám lâm sàng, cần thực hiện chụp CT để xác định chỉ số mức độ nặng (PSI). (Xem “Lồng ngực lõm: Nguyên nhân và đánh giá”.)

Chỉ định phẫu thuật – Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy can thiệp phẫu thuật điều trị PE mang lại lợi ích về mặt tâm lý cho nhiều bệnh nhân, trong khi lợi ích về sinh lý có sự khác biệt tùy trường hợp. Các chỉ định, thời điểm và phương pháp tiếp cận tối ưu hiện chưa được tiêu chuẩn hóa hoàn toàn. Chúng tôi đề xuất phẫu thuật chỉnh hình cho bệnh nhân lồng ngực lõm mức độ trung bình hoặc nặng (PSI > 3,25), có triệu chứng tim phổi đáng kể, có chèn ép tim, bệnh nhân lo ngại về ngoại hình và/hoặc dị tật tiến triển theo thời gian (Khuyến cáo 2C). (Xem ‘Mục tiêu và chỉ định’ ở dưới.)

Thời điểm phẫu thuật – Đối với hầu hết bệnh nhân có các chỉ định nêu trên, chúng tôi đề xuất thực hiện phẫu thuật trong khoảng từ cuối thời thơ ấu đến giữa thời kỳ vị thành niên (Khuyến cáo 2C). Sự đồng thuận chung cho rằng khoảng tuổi này cho phép sụn tái cấu trúc tốt nhất, đồng thời giảm thiểu nguy cơ tái phát trong giai đoạn dậy thì. (Xem ‘Thời điểm’ ở dưới.)

Kỹ thuật phẫu thuật – Việc chỉnh hình lồng ngực lõm được thực hiện bằng phương pháp Nuss hoặc phương pháp Ravitch cải biên. Phương pháp Nuss là một kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, trong đó một thanh kim loại uốn cong được đặt vào để nâng xương ức; thanh này sẽ được rút ra sau ít nhất hai năm, mặc dù một số tác giả cho rằng nên kéo dài thời gian đặt thanh để giảm nguy cơ tái phát (hình 1). Phương pháp Ravitch cải biên là phẫu thuật mở để cắt bỏ sụn dưới màng sụn và đục xương ức, sau đó đặt một thiết bị cố định bên trong (hình 2). (Xem ‘Các phương pháp tiếp cận hiện nay’‘Tái phát’ ở dưới.)

Kết quả điều trị – Kết quả của phương pháp Nuss và Ravitch cải biên chưa được so sánh trực tiếp trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng. Dựa trên các báo cáo loạt ca, tỷ lệ thành công chung của cả hai phương pháp đều cao; các kết quả về thẩm mỹ, khả năng vận động (do bệnh nhân tự đánh giá) và các phép đo khách quan về chức năng tim phổi tương đương nhau. (Xem ‘Kết quả điều trị’ ở dưới.)

Biến chứng – Phương pháp Nuss và Ravitch cải biên có các loại biến chứng khác nhau, nhưng tần suất và mức độ nghiêm trọng tổng thể là tương đương. Việc cải tiến các thiết bị, kỹ thuật phẫu thuật cũng như kinh nghiệm của phẫu thuật viên đã giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng và tái phát. Những tiến bộ trong kiểm soát đau (đặc biệt là phương pháp áp lạnh dây thần kinh liên sườn) đã cải thiện đáng kể việc quản lý đau sau phẫu thuật Nuss. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)

Lựa chọn phẫu thuật – Trong bối cảnh thiếu các thử nghiệm đối chứng so sánh kết quả và biến chứng giữa hai phương pháp Nuss và Ravitch cải biên, việc lựa chọn kỹ thuật nên dựa trên sở thích và kinh nghiệm của phẫu thuật viên cũng như cơ sở y tế. Phương pháp Nuss được ưu tiên tại nhiều trung tâm; trong khi đó, phương pháp Ravitch cải biên có thể phù hợp và cần thiết cho những trường hợp dị tật phức tạp hoặc không đối xứng. (Xem ‘Lựa chọn phẫu thuật’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here