Tiếp cận trẻ bị phơi nhiễm độc chất ẩn khuất

Liên kết hướng dẫn của các hiệp hội

Các liên kết dẫn đến hướng dẫn từ các hiệp hội và chính phủ của một số quốc gia và khu vực trên thế giới được cung cấp riêng biệt. (Xem “Liên kết hướng dẫn của các hiệp hội: Các biện pháp chung trong điều trị ngộ độc cấp”“Liên kết hướng dẫn của các hiệp hội: Điều trị ngộ độc cấp do các tác nhân đặc hiệu không phải thuốc lạm dụng”.)

TÓM TẮT

Biểu hiện lâm sàng – Cần xem xét khả năng tiếp xúc với độc chất tiềm ẩn trong chẩn đoán phân biệt ở trẻ em khởi phát cấp tính tình trạng suy đa cơ quan, rối loạn ý thức, suy hô hấp hoặc suy tim, toan chuyển hóa không rõ nguyên nhân, co giật hoặc có bệnh cảnh lâm sàng gây khó hiểu. Mức độ nghi ngờ cần được nâng cao nếu trẻ nằm trong nhóm tuổi có nguy cơ (từ 1 đến 4 tuổi), có tiền sử rối loạn sử dụng chất (SUD) và/hoặc từng có tiền sử ngộ độc. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Ở trẻ lớn và thanh thiếu niên ngộ độc tiềm ẩn, cần nghi ngờ các nỗ lực tự sát hoặc lạm dụng các chất gây nghiện, thuốc kê đơn. Việc lạm dụng trẻ em thông qua ép uống độc chất ở trẻ nhỏ cũng xảy ra, đặc biệt là ở trẻ dưới 1 tuổi. (Xem mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)

Tiếp cận – Quy trình tiếp cận trẻ ngộ độc bắt đầu bằng việc đánh giá ban đầu và ổn định đường thở, hô hấp, tuần hoàn, đồng thời đánh giá và xử trí các vấn đề thần kinh trong khi bộc lộ hoàn toàn cơ thể bệnh nhân. (Xem mục ‘Tiếp cận’‘Đánh giá và ổn định ban đầu’ ở dưới.)

Ổn định – Thiếu oxy máu và hạ đường huyết là hai nguyên nhân phổ biến gây rối loạn ý thức ở bệnh nhân ngộ độc cần được đánh giá và xử trí kịp thời trong quá trình ổn định ban đầu. (Xem mục ‘Đánh giá và ổn định ban đầu’ ở dưới.)

Chỉ định dùng naloxone cho những bệnh nhân có tình trạng suy giảm ý thức, giảm nhịp thở, đồng tử co nhỏ hoặc có các bằng chứng lâm sàng khác cho thấy ngộ độc opioid. (Xem mục ‘Rối loạn ý thức’ ở dưới.)

Đánh giá và chẩn đoán – Hỏi bệnh sử và khám thực thể giúp xác định loại chất gây ngộ độc ở một số lượng lớn trẻ em. (Xem mục ‘Chẩn đoán ngộ độc’ ở dưới.)

Đánh giá trạng thái tâm thần, dấu hiệu sinh tồn và đồng tử, cùng với việc thăm khám da và các dấu hiệu khác (nhận diện hội chứng nhiễm độc – toxidrome) có thể cung cấp manh mối về loại chất gây ngộ độc, từ đó giúp định hướng điều trị đặc hiệu hoặc điều trị theo kinh nghiệm (bảng 2). (Xem mục ‘Khám thực thể’ ở dưới.)

Các xét nghiệm cận lâm sàng then chốt bao gồm: đường huyết nhanh, điện giải đồ có tính khoảng trống anion, khí máu tĩnh mạch hoặc động mạch, nồng độ acetaminophen huyết thanh và điện tâm đồ. Những bệnh nhân có kiềm hô hấp hoặc toan chuyển hóa và/hoặc tăng khoảng trống anion cũng cần được đo nồng độ salicylate và áp suất thẩm thấu huyết thanh. (Xem mục ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ ở dưới.)

Chăm sóc hỗ trợ – Chăm sóc hỗ trợ là khía cạnh quan trọng nhất trong điều trị, khi kết hợp với khử độc (nếu có chỉ định), thường là đủ để bệnh nhân hồi phục hoàn toàn. (Xem mục ‘Chăm sóc hỗ trợ’‘Khử độc’ ở dưới.)

Thuốc giải độc – Thuốc giải độc nên được sử dụng trong các tình huống lâm sàng chọn lọc bởi các bác sĩ có kinh nghiệm, hoặc sau khi hội chẩn với các chuyên gia tại các Trung tâm Chống độc khu vực. (Xem mục ‘Trung tâm chống độc khu vực’‘Thuốc giải độc’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here