TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng
Ung thư nội mạc tử cung thường biểu hiện bằng tình trạng chảy máu tử cung bất thường (AUB). Các biểu hiện khác bao gồm kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường khi sàng lọc ung thư cổ tử cung, phát hiện bất thường trên chẩn đoán hình ảnh, hoặc phát hiện tình cờ khi phẫu thuật cắt tử cung điều trị bệnh lý lành tính. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Mặc dù khoảng 91% bệnh nhân sau mãn kinh mắc ung thư nội mạc tử cung có biểu hiện AUB, nhưng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung chung ở những bệnh nhân sau mãn kinh có AUB chỉ khoảng 9%; con số này thay đổi tùy theo việc sử dụng liệu pháp hormone và khu vực địa lý. (Xem thêm ‘Chảy máu tử cung bất thường’ ở dưới.)
Khám lâm sàng – Khám vùng chậu thường không ghi nhận bất thường ở bệnh nhân giai đoạn sớm. Trong giai đoạn tiến triển, tử cung có thể to ra và/hoặc bị cố định trong vùng chậu. Ở bệnh nhân sau mãn kinh, chẩn đoán hình ảnh tử cung có thể cho thấy nội mạc tử cung dày. (Xem thêm ‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán
Ung thư nội mạc tử cung là chẩn đoán mô bệnh học dựa trên kết quả đánh giá mẫu sinh thiết nội mạc tử cung, mẫu nạo buồng tử cung hoặc bệnh phẩm sau cắt tử cung. (Xem thêm ‘Lấy mẫu mô làm mô bệnh học’ ở dưới.)
Ở những bệnh nhân có AUB nghi ngờ ung thư nội mạc tử cung nhưng kết quả sinh thiết nội mạc tử cung mù không đủ tế bào để chẩn đoán, chúng tôi đề xuất nội soi buồng tử cung kết hợp nạo buồng tử cung là bước tiếp theo trong quy trình chẩn đoán. (Xem thêm ‘Tiếp cận bệnh nhân có kết quả mô bệnh học không chẩn đoán được’ ở dưới.)
Đối với bệnh nhân có AUB kéo dài hoặc tái phát nhưng kết quả sinh thiết nội mạc tử cung ban đầu là lành tính, cần tiếp tục đánh giá ung thư nếu chưa xác định được nguyên nhân gây chảy máu khác. Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi đánh giá lại những bệnh nhân này sau 3 đến 6 tháng. Siêu âm đường âm đạo, siêu âm trong buồng tử cung hoặc nội soi buồng tử cung chẩn đoán được thực hiện để loại trừ các tổn thương cấu trúc (u xơ tử cung, polyp nội mạc tử cung). Ngoài ra, việc lặp lại sinh thiết nội mạc tử cung là thiết yếu để loại trừ tăng sinh nội mạc tử cung hoặc ung thư, đặc biệt ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ ác tính. Tỷ lệ tân sinh nội mạc tử cung được báo cáo ở bệnh nhân được đánh giá vì chảy máu sau mãn kinh kéo dài hoặc tái phát dao động rộng, từ 4% đến 21%. (Xem thêm ‘Tiếp cận các bệnh nhân chọn lọc có mô bệnh học lành tính’ ở dưới.)
Nguồn cung cấp estrogen – Ở bệnh nhân sau mãn kinh, việc phát triển ung thư nội mạc tử cung đòi hỏi phải đánh giá các nguồn estrogen nội sinh và ngoại sinh. Nếu không tìm thấy các nguồn estrogen phổ biến (ví dụ: liệu pháp estrogen, béo phì, thuốc điều hòa thụ thể estrogen chọn lọc hoặc một số loại thảo dược), những bệnh nhân này nên được siêu âm vùng chậu hoặc chẩn đoán hình ảnh khác để tìm khối u phần phụ, vì đây có thể là u dây và u tổ chức đệm của buồng trứng tiết estrogen. (Xem thêm ‘Bệnh nhân sau mãn kinh không điều trị hormone’ ở dưới.)
Tiên lượng – Hầu hết bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung có tiên lượng tốt (hình 1). Tiên lượng được xác định chủ yếu bởi giai đoạn bệnh, độ mô học, loại mô bệnh học và phân loại phân tử (nếu biết) (bảng 2 và bảng 3). (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
Sàng lọc – Đối với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi đề xuất không thực hiện các xét nghiệm sàng lọc (ví dụ: chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết mô, tế bào học cổ tử cung) cho ung thư nội mạc tử cung (Khuyến cáo 2C); tất cả bệnh nhân nên được hỏi và dặn báo cáo ngay khi có biểu hiện AUB. Ngoại lệ là những bệnh nhân mắc hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp) và hội chứng Cowden, những người có nguy cơ mắc ung thư nội mạc tử cung suốt đời từ 13% đến 71% so với 3% ở quần thể chung. Chiến lược sàng lọc và phòng ngừa ung thư nội mạc tử cung ở những bệnh nhân này bao gồm sinh thiết nội mạc tử cung và phẫu thuật cắt tử cung dự phòng giảm nguy cơ. (Xem thêm ‘Sàng lọc’ ở dưới, ‘Bệnh nhân mắc hội chứng Lynch’ và ‘Bệnh nhân mắc hội chứng Cowden’ ở dưới.)