TÓM TẮT
Xử trí ban đầu – Trẻ em và thanh thiếu niên vận động viên nghi ngờ chấn thương cột sống cổ cần được đánh giá và xử trí ban đầu theo các ưu tiên được thiết lập bởi hướng dẫn Hỗ trợ nâng cao trong cấp cứu chấn thương (ATLS). Các hành động thiết yếu bao gồm (xem Xử trí ban đầu ở dưới):
- Hạn chế vận động cột sống
- Kiểm soát đường thở và đặt nội khí quản ở những bệnh nhân không thể tự duy trì đường thở hoặc có liệt hô hấp
- Điều trị sốc nhanh chóng bằng hồi sức dịch, sau đó đánh giá tình trạng sốc tủy
- Hội chẩn cấp cứu với đội ngũ chuyên khoa cột sống nhi
Hạn chế vận động cột sống – Việc hạn chế vận động cột sống cổ cần được thực hiện ở bất kỳ trẻ nào nghi ngờ chấn thương cho đến khi loại trừ được tổn thương. Việc hạn chế vận động nên được thiết lập ngay từ giai đoạn tiền viện, hoặc khi bệnh nhân nhập viện và phải duy trì cho đến khi chấn thương được loại trừ thông qua lâm sàng hoặc chẩn đoán hình ảnh. (Xem Xử trí ban đầu ở dưới và “Chăm sóc tại hiện trường và đánh giá vận động viên trẻ em hoặc thanh thiếu niên bị chấn thương cổ cấp tính”, phần ‘Hạn chế vận động cột sống (cố định)’.)
Đánh giá – Sau khi thực hiện hạn chế vận động cột sống và xử trí ban đầu, việc đánh giá đau và chấn thương cổ phải bao gồm khai thác bệnh sử đầy đủ, thăm khám lâm sàng và chỉ định chẩn đoán hình ảnh cột sống cổ khi cần thiết. (Xem Đánh giá ở dưới.)
Khám cổ ban đầu bao gồm sờ nắn tìm điểm đau khu trú, co thắt cơ, điểm đau hoặc biến dạng các mỏm gai sau trong khi vẫn duy trì cố định thẳng trục cổ. Những bệnh nhân có đau cổ, đau điểm giữa vùng sau cổ, cơ chế chấn thương nguy cơ cao (ví dụ: vận động viên khúc côn cầu lao đầu trực diện vào thành băng hoặc vận động viên bóng đá Mỹ đau cổ sau một cú tắc bóng kiểu spear tackle), hoặc có dấu hiệu thần kinh khu trú cần được hạn chế vận động cột sống cổ và chụp hình ảnh trước khi cho phép thực hiện đánh giá tầm vận động hoặc các nghiệm pháp kích thích (ví dụ: nén trục hoặc nghiệm pháp Spurling). (Xem Khám cổ ở dưới.)
Sự hiện diện của khiếm khuyết thần kinh cũng đòi hỏi phải hạn chế vận động cột sống ngay lập tức, sau đó là chụp hình ảnh cột sống cấp cứu. Các dấu hiệu thần kinh có thể xuất hiện theo các bệnh cảnh gợi ý tổn thương trung tâm, bệnh rễ thần kinh hoặc chèn ép dây thần kinh ngoại biên. Việc nắm vững giải phẫu thần kinh, bao gồm các phân vùng cảm giác và vận động (dermatomes) của chi trên, là cần thiết để định khu tổn thương (bảng 1 và hình 3). (Xem Khám thần kinh ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán hình ảnh – Các dấu hiệu bệnh sử và lâm sàng bổ sung giúp định hướng chẩn đoán hình ảnh được tóm tắt trong bảng (bảng 3). Đối với vận động viên, các chấn thương do lặn, ngã từ độ cao lớn hơn chiều cao cơ thể và chấn thương nén trục được coi là những chấn thương nguy cơ cao. (Xem Đánh giá chẩn đoán hình ảnh ở dưới.)
X-quang cột sống cổ quy ước bao gồm các tư thế thẳng (AP), nghiêng và tư thế há miệng là chỉ định ban đầu để đánh giá chấn thương cột sống cổ ở hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên. Tuy nhiên, đối với trẻ có thang điểm hôn mê Glasgow (GCS) < 9 (bảng 4) hoặc có khiếm khuyết thần kinh khi thăm khám, chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) cột sống cổ thay vì chụp X-quang quy ước (Xem Đánh giá chẩn đoán hình ảnh ở dưới.)
Xử trí triệt để – Hội chẩn với chuyên khoa cột sống nhi được khuyến cáo cho tất cả trẻ em có bất thường về thần kinh khi thăm khám hoặc có hình ảnh chấn thương cột sống cổ không ổn định. Nếu không có chuyên gia tại chỗ trong giai đoạn xử trí cấp cứu, cần sắp xếp chuyển viện ngay lập tức đến trung tâm có đủ khả năng cung cấp các dịch vụ này. (Xem Xử trí triệt để ở dưới.)
Quay lại thi đấu – Quyết định quay lại thi đấu phải được xem xét trên từng trường hợp cụ thể, đặc biệt là đối với các môn thể thao va chạm trực tiếp. Sự an toàn của vận động viên là cân nhắc quan trọng nhất, và quá trình ra quyết định cần có sự tham vấn của các chuyên gia tham gia điều trị (ví dụ: ngoại thần kinh, chấn thương chỉnh hình, y học thể thao, vật lý trị liệu). Các bảng hướng dẫn chi tiết theo từng loại chấn thương cụ thể (bảng 5A-B). (Xem Quay lại thi đấu ở dưới.)