TÓM TẮT
Đánh giá y khoa – Đối với mọi trường hợp gãy xương ở trẻ em, cần xem xét khả năng có chấn thương do tác động cố ý dựa trên độ tuổi của trẻ, đặc điểm tổn thương tổng thể, cơ chế chấn thương được mô tả và các yếu tố tâm lý xã hội liên quan. Các dấu hiệu trong đánh giá y khoa nghi ngờ chấn thương chỉnh hình do tác động cố ý bao gồm (xem Đánh giá y khoa ở dưới):
- Sự mâu thuẫn hoặc không nhất quán trong lời kể của người chăm sóc về các tình huống dẫn đến chấn thương.
- Chấn thương không có người chứng kiến.
- Chấn thương được cho là do anh chị em của bệnh nhi gây ra.
- Chấn thương không phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ.
- Chấn thương không phù hợp với cơ chế gây chấn thương được mô tả.
Các dấu hiệu cảnh báo trong tiền sử và các tổn thương gây nghi ngờ bạo hành trẻ em được cung cấp trong các bảng (bảng 1 và bảng 6). (Xem “Ngược đãi thể xác trẻ em: Nhận biết”).
Chẩn đoán hình ảnh – Cần chụp X-quang hai bình diện (thẳng và nghiêng) vùng bị tổn thương cùng với khớp phía trên và phía dưới đối với tất cả bệnh nhân. Nghi ngờ bạo hành ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là chỉ định tuyệt đối để thực hiện khảo sát toàn bộ hệ xương (bảng 4). Sau khi hội chẩn với chuyên gia hoặc nhóm chuyên trách về bạo hành trẻ em, khảo sát hệ xương cũng được chỉ định cho trẻ dưới 5 tuổi có gãy xương nghi ngờ, và trẻ lớn hơn nhưng không thể cung cấp tiền sử hoặc không thể chỉ ra vùng bị chấn thương hoặc đau (ví dụ: trẻ khuyết tật trí tuệ). (Xem Khảo sát hệ xương ở dưới).
Khi nghi ngờ chấn thương do tác động cố ý cao nhưng kết quả khảo sát hệ xương ban đầu là âm tính, các lựa chọn bao gồm:
- Thực hiện lại khảo sát hệ xương sau hai tuần kể từ lần đánh giá đầu tiên.
- Chụp MRI toàn thân (xem Chụp cộng hưởng từ (MRI) ở dưới).
- Xạ hình xương (xem Xạ hình phóng xạ ở dưới).
Đặc điểm gãy xương – Mặc dù không có kiểu gãy xương nào là đặc hiệu tuyệt đối, nhưng những trường hợp gãy xương sau đây đủ để gây nghi ngờ bạo hành, cần phải đánh giá toàn diện thông qua hội chẩn với chuyên gia hoặc nhóm chuyên trách về bạo hành trẻ em (xem Tổng quan ở dưới và “Ngược đãi thể xác trẻ em: Đánh giá chẩn đoán và quản lý”):
- Gãy góc hành xương (hình 1, hình 1A, hình 2 và hình 3) (xem Hành xương ở dưới).
- Gãy xương sườn (hình 4) (xem Gãy xương sườn ở dưới).
- Gãy xương ức, xương bả vai hoặc mỏm gai đốt sống (xem Gãy xương cột sống và Các loại gãy xương khác ở dưới).
- Đa gãy xương ở các giai đoạn liền xương khác nhau (hình 5) (xem Đa gãy xương ở dưới).
- Gãy xương dài cấp tính hai bên hoặc gãy xương dài đơn độc ở trẻ chưa biết đi (xem Gãy xương dài ở dưới).
- Gãy thân đốt sống và bán trật khớp mà không có tiền sử chấn thương lực mạnh (xem Gãy xương cột sống ở dưới).
- Gãy xương ngón ở trẻ dưới 36 tháng tuổi hoặc không có tiền sử tương ứng (xem Đa gãy xương ở dưới).
- Gãy sụn tăng trưởng di lệch, đặc biệt là gãy xuyên sụn tăng trưởng vùng đầu dưới xương cánh tay ở trẻ chưa biết đi (hình 6).
- Gãy xương sọ ở trẻ dưới 18 tháng tuổi kèm theo tiền sử nghi ngờ (bảng 1) và xuất huyết nội sọ phối hợp, đặc biệt là tụ máu dưới màng cứng (xem “Ngược đãi trẻ em: Đánh giá và chẩn đoán chấn thương đầu do ngược đãi ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ”, phần ‘Trẻ em bị tổn thương nội sọ’).
Các kiểu gãy xương ít đặc hiệu hơn đối với bạo hành bao gồm (xem Tổng quan ở dưới):
- Gãy xương dài đơn độc ở trẻ đã biết đi.
- Gãy xương sọ dạng đường thẳng.
- Gãy xương đòn.
- Hình thành xương mới dưới màng xương.